KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC GIÁ TRỊ LỊCH SỬ, THỜI ĐẠI CỦA CHIẾN THẮNG 30 THÁNG 4

Năm nay, trong những ngày hướng đến kỷ niệm Chiến thắng lịch sử vĩ đại 30/4/1975, nhân dân ta đón mừng sự kiện này với nhiều niềm vui mới. Theo báo cáo của Chính phủ, kinh tế Việt Nam năm 2018 khởi sắc trên cả ba khu vực sản xuất, cung - cầu của nền kinh tế cùng song hành phát triển.

NHẬN DIỆN VÀ NGĂN NGỪA THỦ ĐOẠN LỢI DỤNG LÒNG YÊU NƯỚC ĐỂ KÍCH ĐỘNG NGƯỜI DÂN XUỐNG ĐƯỜNG BIỂU TÌNH, GÂY RỐI TRẬT TỰ CÔNG CỘNG

Người yêu nước chân chính là người biết sử dụng pháp luật, đạo đức, truyền thống tốt đẹp để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình, đồng thời phải biết tôn trọng và bảo vệ quyền và lợi ích của Nhà nước, xã hội, quyền và lợi ích chính đáng của người khác. Nhận diện được phương thức, thủ đoạn lợi dụng lòng yêu nước để kích động nhân dân làm việc xấu chính là nhằm đưa ra các biện pháp xử lý phù hợp, đồng thời tránh được sự lợi dụng đó để gây ra rối loạn xã hội, phức tạp tình hình.

Thông cáo báo chí kỳ họp 32 của Ủy ban Kiểm tra Trung ương

Từ ngày 03 đến 06/12/2018 tại Hà Nội, Ủy ban kiểm tra Trung ương đã họp kỳ 32. Đồng chí Trần Cẩm Tú, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra Trung ương chủ trì kỳ họp.

UBKTTW kết luận vụ AVG: Sai phạm của ông Nguyễn Bắc Son, Trương Minh Tuấn là rất nghiêm trọng

UBKTTW vừa họp kỳ 26 kết luận vụ AVG có những vi phạm của Ban cán sự đảng Bộ TT-TT, ông Nguyễn Bắc Son, ông Trương Minh Tuấn, ông Phạm Đình Trọng, của Ban Thường vụ Đảng ủy Mobifone và các ông Lê Nam Trà, Cao Duy Hải là rất nghiêm trọng.

Bốn kỳ vọng thay đổi lớn về công tác cán bộ sau 4 ngày Hội nghị T.Ư 7

Sau 4 ngày làm việc, Hội nghị Trung ương 7 khóa XII đã thảo luận nhiều nội dung quan trọng được dư luận đặc biệt quan tâm, trong đó có công tác cán bộ, bởi đây là vấn đề “nóng” trong tình hình hiện nay.

Thứ Sáu, 19 tháng 7, 2019

PHÁN QUYẾT VỀ BIỂN ĐÔNG, SAU 3 NĂM NHÌN LẠI

Ngày 12/7 vừa qua đánh dấu 3 năm kể từ khi Tòa Trọng tài Thường trực (Permanent Court of Arbitration - PCA) ở The Hague (Hà Lan) ra phán quyết bác bỏ cái gọi là “chủ quyền lịch sử” của Trung Quốc đối với vùng biển trong đường 9 đoạn trên Biển Đông và khẳng định đó là “không có cơ sở pháp lý”.

PHÁN QUYẾT VỀ BIỂN ĐÔNG, SAU 3 NĂM NHÌN LẠI
Tòa Trọng tài Thường trực công bố phán quyết về Biển Đông, năm 2016.
Cùng nhìn lại các diễn biến thời gian qua để thấy rõ hiện trạng và thực chất vấn đề khi có quốc gia thì đang sa lầy trong các toan tính hậu phán quyết và Trung Quốc vẫn tiếp tục chính sách áp đặt chủ quyền một cách thô bạo và trái với luật pháp quốc tế.
Ngày 22/01/2013, Philippines đã khởi đầu quy trình trọng tài theo Phụ lục VII của Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS) tại PCA. Bất chấp sự phản đối và vận động tẩy chay của Trung Quốc, ngày 12/7/2016, PCA ra phán quyết xác định rằng yêu sách chủ quyền về “đường 9 đoạn” của Bắc Kinh là vô lý và vi phạm UNCLOS.
Phán quyết của tòa PCA kết luận: “Không có bằng chứng nào cho thấy Trung Quốc trong lịch sử đã từng “độc quyền kiểm soát” các vùng biển và các nguồn tài nguyên tại đây”.

Philippines: Rối rắm các tính toán

Tuy nhiên, đến tháng 10/2016, sau khi thắng cử, Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte bất ngờ có chuyến thăm Trung Quốc cấp nhà nước. Trước khi khởi hành, ông Duterte có cuộc trả lời phỏng vấn Đài Truyền hình Trung ương Trung Quốc (CCTV), trong đó đề cập đến các vấn đề nhạy cảm trong quan hệ hai nước. Tổng thống Duterte cho biết ông hy vọng loại bỏ hoàn toàn “vùng xám” trong quan hệ song phương, mà một phần quan trọng là vấn đề Biển Đông.
Cùng với tuyên bố này, nhà lãnh đạo Philippines đã thực hiện chính sách “gác lại” phán quyết PCA để cải thiện quan hệ với Bắc Kinh, đổi lấy các lợi ích kinh tế. Sau chuyến đi, ông Duterte về nước với những cam kết của Bắc Kinh sẽ cho vay cũng như đầu tư khoảng 24 tỷ USD, kể cả cho các dự án quy mô đầy tham vọng của ông Duterte để canh tân cơ sở hạ tầng Philippines.
Tuy nhiên, số liệu Chính phủ Philippines đã công bố, chỉ có 3 dự án, 2 chiếc cầu và 1 cơ sở thủy lợi, trị giá chung là 167 triệu USD, là đã bắt đầu được xúc tiến. Phần còn lại, gồm 3 dự án đường sắt, 3 đường cao tốc và 9 cây cầu, vẫn nằm trong giai đoạn quy hoạch và phân bố ngân sách, hoặc đang chờ Bắc Kinh phê duyệt tài chính, hoặc đang trong giai đoạn chọn nhà thầu Trung Quốc.
Theo số liệu của Cục Thống kê Philippines, trong nửa đầu năm 2018, cam kết đầu tư vào Philippines của Trung Quốc chỉ đạt 33 triệu USD, bằng 40% của Mỹ và 1/7 các cam kết của Nhật Bản, theo xu hướng tương tự như năm trước đó. Giao thương giữa Trung Quốc và Philippines đã tăng đáng kể nhưng dữ liệu cho thấy phần lớn chỉ có lợi cho Trung Quốc.
Có thể nói, cho tới giờ chỉ một phần nhỏ các cam kết của Trung Quốc cho Philippines trở thành hiện thực. Bản thân ông Duterte bị dư luận trong nước chỉ trích. Giới quan sát cho rằng nếu ông không chứng minh được là chính sách ngoại giao nhân nhượng của ông đã mang về lợi ích kinh tế cho Philippines thì vị thế của ông sẽ bị suy yếu trước các cuộc bầu cử giữa kỳ năm 2019, mà kết quả có thể định đoạt sự thành công hay thất bại nhiệm kỳ tổng thống của ông.

Sự áp đặt chủ quyền vẫn tiếp diễn

Tròn 3 năm kể từ ngày PCA ra phán quyết, theo đánh giá của Sáng kiến Minh bạch hàng hải châu Á (AMTI) thuộc Viện Nghiên cứu chiến lược quốc tế (CSIS) công bố ngày 12/7, nhìn chung, Trung Quốc đã không chịu tuân thủ gần như toàn bộ nội dung của phán quyết.
Cụ thể, các quan chức Trung Quốc dù đã ít đề cập hơn về cái gọi là “đường 9 đoạn” như là cơ sở cho yêu sách của họ đối với Biển Đông nhưng họ tiếp tục tuyên bố có chủ quyền lịch sử (vốn không rõ ràng) đối với hầu hết các vùng biển và đáy biển ở Biển Đông. Chính vì dựa trên cơ sở này mà ngư dân Trung Quốc tiếp tục hoạt động phi pháp trong các vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, Philippines và Indonesia. Trung Quốc tiếp tục xây dựng các đảo nhân tạo và lắp đặt các trang thiết bị tại Đá Vành Khăn.
Trắng trợn hơn, Trung Quốc tiếp tục tuyên bố lệnh cấm đánh bắt cá đơn phương từ tháng 5 đến tháng 8 hằng năm, bao gồm phần lớn trong vùng đặc quyền kinh tế của Philippines và Việt Nam.
Ngay trước dịp kỷ niệm 3 năm ngày PCA ra phán quyết, Bộ Ngoại giao Mỹ ngày 11/7 đã có tuyên bố lên án Trung Quốc phản bội lời hứa không quân sự hóa Biển Đông đã đưa ra năm 2015. Mỹ đồng thời tái khẳng định việc Washington cực lực phản đối các nỗ lực của Bắc Kinh nhằm áp đặt các yêu sách chủ quyền “bất hợp pháp” ở Biển Đông.
Trung Quốc ngay từ đầu đã từ chối tham gia vào tiến trình vụ kiện, chủ yếu với lý do PCA không có thẩm quyền. Sâu xa hơn, Trung Quốc dường như cảm thấy không tự tin với cơ sở pháp lý trong các yêu sách trên Biển Đông của mình và lo sợ bị thua kiện, bị ràng buộc bởi các phán quyết khiến quyền tự do hành động bị hạn chế. Điều này là dễ hiểu khi Trung Quốc đang muốn củng cố sức mạnh hàng hải và vị thế chiến lược của mình trên Biển Đông nhằm giành ưu thế trong cạnh tranh chiến lược vốn đang ngày càng gay gắt với Mỹ.
Việc Trung Quốc từ chối tham gia vụ kiện đã bị công luận nhiều nước trên thế giới chỉ trích bởi nó thể hiện sự thiếu thiện chí và coi thường luật pháp quốc tế, nhất là khi Trung Quốc vẫn luôn khẳng định mong muốn trở thành một cường quốc có trách nhiệm. Tiếp đó, Trung Quốc phủ nhận tính pháp lý trong phán quyết của PCA và tiếp tục tiến hành các hành động mang tính khiêu khích trên Biển Đông, cũng như tiếp tục hoàn thiện và quân sự hóa các đảo nhân tạo tại Trường Sa.
Tựu trung lại, hành động phủ nhận phán quyết PCA và tiếp tục sự áp đặt chủ quyền một cách thô bạo ở Biển Đông của Trung Quốc được giới quan sát đánh giá là “lợi bất cập hại” khi không chỉ ảnh hưởng tới uy tín quốc tế của Trung Quốc mà còn có thể làm hại các lợi ích hàng hải của nước này không chỉ ở Biển Đông mà còn ở cả các vùng biển khác.
Trong bối cảnh đó, các nước có lợi ích trong khu vực cần thiết phải đề cao tầm quan trọng trong việc thực thi phán quyết của PCA, nỗ lực đạt được một Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) ràng buộc pháp lý giữa Trung Quốc và Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Ngoài ra, cần phải có các biện pháp giảm thiểu căng thẳng trong vùng biển này và khẳng định vai trò của luật pháp quốc tế và xây dựng một trật tự khu vực dựa trên các quy tắc.
Nam Sơn

Thứ Tư, 10 tháng 7, 2019

SỰ THẬT CÁI GỌI LÀ “NHÀ NƯỚC TIN LÀNH ĐỀ GA”

Tây Nguyên là địa bàn có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về an ninh - quốc phòng của đất nước. Các thế lực thù địch, phản động từ lâu đã rất quan tâm đến vùng đất này, với mưu đồ chia cắt đất nước ta. Để thực hiện âm mưu thâm độc đó, chúng đã chỉ đạo thành lập “Nhà nước Đề Ga độc lập” ở bên ngoài, dùng tổ chức “Tin lành Đề Ga” làm công cụ phát triển lực lượng chống phá trong nước. Thời gian gần đây, nổi lên các hoạt động tái phục hồi, xây dựng các khung cơ sở phản động trong nước của tổ chức FULRO lưu vong làm bàn đạp tiến hành các hoạt động chống phá Nhà nước ta. 

SỰ THẬT CÁI GỌI LÀ “NHÀ NƯỚC TIN LÀNH ĐỀ GA”

FULRO là tên gọi tắt theo cách ghép những chữ cái đứng đầu các từ tiếng Pháp: Front Unifie de Lutte des Races Opprimees (Mặt trận thống nhất đấu tranh của các dân tộc bị áp bức), là một tổ chức chính trị phản động có vũ trang, đã tồn tại dai dẳng trong nhiều thập kỷ qua, câu kết với các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo, dân tộc để chống phá cách mạng nước ta. Đó là tổ chức do các thế lực đế quốc nặn ra, nuôi dưỡng và chỉ đạo, nhằm mục đích chia cắt sự thống nhất đất nước, chia rẽ khối đại đoàn kết các dân tộc ở Việt Nam, ngăn chặn cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước của nhân dân ta. Mấy năm gần đây, mặc dù đã bị ta truy quét nhiều lần, tổ chức này vẫn tồn tại lay lắt, ngoan cố chống phá cách mạng và đã gây nhiều tội ác với đồng bào Tây Nguyên. 
Hiện có 5 tổ chức FULRO lưu vong ở Mỹ, trong đó, hoạt động mạnh là tổ chức Hội những người miền núi - MFI của Ksor Kơk và tổ chức Nhân quyền người Thượng - MHRO của Nay Rông. MFI (Montagnard Foundation Inc), thành lập năm 1992, tại Spartanburg, bang Nam Carolina, Hoa Kỳ, là tiền thân của tổ chức “Nhà nước Đề Ga độc lập”. Cầm đầu tổ chức là “Tổng thống” tự phong Ksor Kơk. “Nhà nước Đề Ga độc lập” được thành lập với mục đích là đấu tranh đòi lại đất Tây Nguyên, lập “Nhà nước Đề Ga” của người Tây Nguyên. Một số đối tượng FULRO, cơ sở FULRO cũ và một số đồng bào nhận thức còn mơ hồ tham gia vào tổ chức “Nhà nước Đề Ga” do chúng lập ra với quy mô lớn và bộ khung khá hoàn chỉnh. 
Dưới sự chỉ đạo của bọn cầm đầu tổ chức “Nhà nước Đề Ga độc lập” ở nước ngoài, các đối tượng trong nước đã tiến hành một số hoạt động gây mất ổn định về an ninh trật tự vùng đồng bào dân tộc ở Tây Nguyên. Chính tổ chức này dưới sự giật dây, chỉ đạo, hậu thuẫn của các thế lực thù địch bên ngoài đã kích động số phần tử phản động trong nước gây ra các vụ bạo loạn ở Tây Nguyên vào các năm 2001, 2004, 2008. 
Nay Rông (cầm đầu tổ chức “Nhân quyền người Thượng - MHRO”) đã cho thành lập tổ chức “Người Thượng thống nhất - UMP” với mục đích kêu gọi người Thượng trong và ngoài nước tham gia phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, thành lập “Nhà nước” cho người Tây Nguyên; công bố lá cờ của tổ chức UMP, đơn tham gia, bản tuyên thệ (gồm 7 lời thề), yêu cầu các thành viên phải thực hiện được nhiệm vụ “giải phóng dân tộc”, thành lập “Nhà nước độc lập" cho người Tây Nguyên; quyết định đặt tên cho “Nhà nước” của người Tây Nguyên là “Chính phủ Đề Ga PMSI” (Đất nước của người Thượng Nam Đông Dương). Chúng cử đoàn thăm trại tị nạn tại Thái Lan thu thập bằng chứng; đi Washington để phối hợp với đại diện các nhóm người dân tộc thiểu số (DTTS) khác (Chăm, Khmer, Mông) để cung cấp tài liệu cho phụ tá đặc biệt của Tổng thống Mỹ về nhân quyền và đại diện Quốc hội nhằm xuyên tạc, vu cáo Việt Nam đàn áp người dân tộc thiểu số, kiến nghị đưa Việt Nam trở lại CPC (những quốc gia có vi phạm đặc biệt nghiêm trọng về tự do tôn giáo)... 
Các tổ chức này tích cực củng cố, chuẩn bị các điều kiện để cho ra đời cái gọi là “Nhà nước Đề Ga tự trị” tại Tây Nguyên. Chúng tăng cường xây dựng cơ sở kinh tài; mở các lớp đào tạo kiến thức văn hóa cho đồng bào; tổ chức các thành viên học “Luật Đề Ga”; thu thập cờ, tài liệu, bản đồ liên quan “Nhà nước Đề Ga”. Từ nước ngoài, chúng gửi kinh phí, cờ vào trong nước, khẳng định “phong trào Đề Ga” sẽ thành công vì được nhiều nước ủng hộ. Các đối tượng cầm đầu thường xuyên tham dự các diễn đàn, các hội nghị quốc tế về nhân quyền, tôn giáo và người tị nạn nhằm kêu gọi sự hỗ trợ, giúp đỡ, liên kết của các thế lực thù địch, phản động; vận động hành lang các nước ủng hộ tài chính. 
Chúng triệt để lợi dụng các văn bản pháp lý quốc tế để xuyên tạc sự thật ở Việt Nam, đặc biệt là Tuyên ngôn về quyền của người bản địa 2007 mà Nhà nước ta đã tham gia; thường xuyên thu thập về tình hình vùng đồng bào DTTS để từ đó bóp méo, xuyên tạc, làm “bằng chứng” đấu tranh với Việt Nam trên lĩnh vực nhân quyền; quyên tiền thuê Hội luật sư ở Washington giúp đỡ trình bày các vấn đề liên quan trước Liên hợp quốc; chuẩn bị tài liệu để tổ chức vụ kiện Việt Nam ra Tòa án quốc tế... Chúng đã triệt để lợi dụng sự phát triển của Internet, mạng di động để liên lạc, tuyên truyền lừa bịp gây chia rẽ đoàn kết, củng cố tổ chức, lừa mị về sự thành công của tổ chức Đề Ga để củng cố niềm tin cho bọn phản động trong nước. 
Khi bị thất bại trong các cuộc biểu tình, gây rối ở Tây Nguyên, chúng kích động người DTTS trốn sang Campuchia, tuyên bố cho định cư ở Mỹ nhằm tái lập “trại tị nạn” làm chỗ đứng chân, tập hợp lực lượng, gây mất ổn định lâu dài ở Tây Nguyên. Cùng với những hoạt động chống phá ngầm, chúng còn sử dụng các diễn đàn chính trị can thiệp trực tiếp vào vấn đề dân tộc, tôn giáo ở Tây Nguyên. Thông qua hoạt động của các tổ chức phi Chính phủ, các đoàn lâm thời và một số người Thượng lưu vong tại Mỹ về Việt Nam thăm thân, chúng tìm cách thu thập tình hình cũng như việc thực hiện chính sách tôn giáo, dân tộc của Nhà nước ta ở Tây Nguyên. Trên cơ sở đó, chúng thổi phồng những sai lầm, thiếu sót của ta, xuyên tạc sự thật, tố cáo Việt Nam đàn áp tôn giáo, phân biệt đối xử với người DTTS trong các cuộc điều trần ở Quốc hội Mỹ. Đặc biệt, từ khi Thượng Nghị viện Mỹ thông qua luật HR 2431 về tự do tín ngưỡng quốc tế, các hoạt động điều tra nhằm kích động vấn đề nhân quyền trong dân tộc, tôn giáo ở Tây Nguyên được tiến hành công khai, ráo riết hơn. 
Tiếp đó, Hạ viện Mỹ lại thông qua Dự luật HR 2368 về “Đạo luật nhân quyền Việt Nam”, đây là một dự luật sai trái, vi phạm nghiêm trọng những quy định của pháp luật quốc tế, can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của Việt Nam. Một số nội dung trong Dự luật đã khuyến khích người Thượng Tây Nguyên vượt biên trái phép sang Campuchia, gây mất an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. 
Như vậy, có thể thấy cái gọi là “Nhà nước Đề Ga”, “Tin lành Đề Ga” thực chất là một biến thể của FULRO do các thế lực thù địch, phản động bên ngoài dựng lên. Âm mưu, hoạt động của chúng hiện nay là tập trung tuyên truyền xuyên tạc các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta đối với các DTTS, kích động, gieo rắc tư tưởng ly khai, tự trị, chia rẽ khối đoàn kết dân tộc Việt Nam. Đồng thời, thông qua sự chỉ đạo, chi viện về vật chất của các thế lực thù địch, phản động ở nước ngoài, chúng ráo riết xây dựng, phát triển lực lượng ở trong nước, chủ trương cắm cờ FULRO, cho ra mắt “Nhà nước Đề Ga tự trị”. Tổ chức biểu tình và cao hơn là tiến hành bạo loạn chính trị, hòng tạo cớ để kẻ thù bên ngoài nhảy vào can thiệp. Đây là những vấn đề chúng ta cần nhận diện một cách đầy đủ để phòng ngừa và kịp thời đấu tranh ngăn chặn. 
Lê Xuân Trình


Thứ Sáu, 5 tháng 7, 2019

PHÒNG, CHỐNG “TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HÓA” CẦN KIÊN QUYẾT

Phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” vốn là công việc rất khó khăn, phức tạp, vì nó liên quan tới vấn đề tư tưởng, biểu hiện âm thầm, gặm nhấm dần lòng tin, xói mòn dần phẩm chất đạo đức của cá nhân, tổ chức. Trong thực tế thì hiện tượng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” cũng liên quan cả gián tiếp và trực tiếp tới công tác xây dựng tổ chức, xây dựng con người, công tác cán bộ v.v..

PHÒNG, CHỐNG “TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HÓA” CẦN KIÊN QUYẾT

Hơn nữa, khi thực hiện nhiệm vụ này rất dễ đụng chạm đến danh dự, lợi ích, quan hệ của mỗi con người. Tuy khó nhưng không thể không làm, vì vấn đề này có liên quan đến sinh mệnh chính trị, uy tín của Đảng và sự tồn vong chế độ. Bởi thế, ngoài quan điểm tích cực và chủ động thì việc kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, khắc phục những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là rất quan trọng. Nếu không kiên quyết trong phòng, chống "“tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” thì việc thực hiện sẽ trở nên “nửa vời” và không đạt được mục tiêu, yêu cầu đề ra.
Để thể hiện tính kiên quyết trong phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” thì trong quá trình thực hiện phải nắm vững nguyên tắc kỷ luật tự giác, nghiêm minh của Đảng, chống phải đi đôi với xây và phải lấy xây làm chính. Cần phải tiến hành đồng bộ, toàn diện đối với mọi tổ chức, cá nhân, gắn kết chặt chẽ giữa đấu tranh, phê bình với các biện pháp hành chính, pháp luật và kinh tế.
Việc tạo ra phong trào và hành động cụ thể, thiết thực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân khi đấu tranh ngăn chặn, khắc phục những biểu “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là rất cần thiết. Có một số vấn đề cần tập trung, đó là: Kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ lãnh đạo, quản lý cao cấp, vấn đề này đã được Đảng ta chú trọng thực hiện trong thời gian qua và đã thu được những kết quả nhất định; kiên quyết sử dụng nhiều biện pháp để đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; kiên quyết thực hiện phê bình, tự phê bình. Khi có dấu hiệu vi phạm thì dù cán bộ ở cương vị nào cũng cần phải được kiểm điểm, phê bình, xử lý kịp thời, mạnh mẽ, không “dĩ hòa vi quý”, không nể nang, rơi vào chủ nghĩa cá nhân, không có vùng cấm, không loại trừ cán bộ chủ chốt, cán bộ cấp cao tự coi mình là “bề trên”, đứng ngoài tổ chức. Những biểu hiện, những đối tượng như thế càng phải kiên quyết trong đấu tranh, khắc phục, loại trừ, bởi đó thực sự là “mầm họa” của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, là nguyên nhân sâu xa nhưng trực tiếp dẫn tới làm ảnh hưởng đến uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng.
TRẦN VŨ

Thứ Hai, 1 tháng 7, 2019

LẬT TẨY MƯU ĐỒ CHỐNG PHÁ BẰNG CHIÊU TRÒ TUYỆT THỰC

Trên nhiều trang Facebook, website của các tổ chức phản động cũng như các trang báo nước ngoài như Việt Tân, Chân trời mới media, RFA tiếng Việt… liên tục đưa ra các bài viết về việc “tù nhân chính trị” tại Trại giam số 6, Thanh Chương, tỉnh Nghệ An đồng loạt “tuyệt thực”. Đi liền với đó, các đối tượng lan truyền các thông tin sai lệch, vu khống bản chất chế độ.

LẬT TẨY MƯU ĐỒ CHỐNG PHÁ BẰNG CHIÊU TRÒ TUYỆT THỰC

Chống đối là điều dễ nhận thấy ở các đối tượng bị kết án về hành vi phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia. Bất chấp việc bị áp dụng hình phạt tù, nhiều người vẫn câu kết với các đối tượng bên ngoài để thực hiện hành vi chống phá Đảng, Nhà nước ta. Thậm chí, nhiều kẻ còn sử dụng việc bị kết án phạt tù như một “thành tích tiêu biểu” nhằm đánh bóng tên tuổi.
Khi vào tù, các đối tượng phạm tội và đồng bọn tự “tẩy trắng” cho bản thân bằng việc nhận mình là “tù chính trị”, “tù nhân lương tâm”. Dù bản thân có những hành vi vi phạm nghiêm trọng pháp luật hình sự của Việt Nam, xâm hại các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ nhưng các đối tượng này vẫn “mồm năm, miệng mười” đưa ra các thông tin sai lệch, cố tình xuyên tạc bản chất vấn đề, cho rằng mình là nạn nhân của chế độ, nạn nhân của sự bất công.
Trong quá trình chấp hành hình phạt, người bị kết án vẫn không ngừng khiêu khích và thực hiện các chiêu trò chống phá. Trong đó, “tuyệt thực” là một chiêu trò cũ rích nhưng vẫn được những nhà “tù nhân chính trị”, “tù nhân lương tâm” tự phong liên tục áp dụng.

Tuyệt thực - Chiêu trò cũ rích

Gần đây, trên nhiều trang truyền thông của các tổ chức, cá nhân phản động, chống đối đồng loạt đăng tải các bài viết có nội dung về việc một số đối tượng đang chấp hành án tại Trại giam số 6, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An tuyệt thực tập thể. Và như một lẽ hiển nhiên, ẩn sau các bài viết này là những thông tin mang tính bịa đặt, vu khống về tình hình dân chủ, nhân quyền ở nước ta.
Với những tiêu đề đầy thu hút như “Nhà tù không phải là nơi huỷ diệt nhân tính”, “Nhiều tù nhân lương tâm Trại giam số 6 tuyệt thực phản đối áp bức”, “Tuyệt thực trong tù để làm gì”..., các bài viết có nội dung bịa đặt liên quan đến việc một số người tự cho mình là “tù nhân chính trị” tiến hành tuyệt thực đã tiếp cận được với không ít người.
Đây là điều vô cùng nguy hiểm bởi nếu người đọc thiếu nhận thức, thông tin thì sẽ rất dễ bị đánh lừa bởi các thông tin bịa đặt nói trên. Thẳng thắn nhìn nhận, việc tuyệt thực không phải là chiêu trò gì mới. Nó đã được rất nhiều đối tượng “tù nhân lương tâm” tự phong áp dụng trong quá trình chấp hành án phạt tù.
Thực tế, nhiều người bị kết án do có hành vi phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia trong quá trình chấp hành án phạt tù giở chiêu tuyệt thực. Trong đó, những cái tên có thể kể đến như Nguyễn Văn Đài, Trần Thị Nga, Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh…
Việc tuyệt thực của các đối tượng không phải diễn ra một cách ngẫu nhiên, mà nó được tính toán một cách hết sức cẩn thận. Nghiên cứu về việc này, chúng ta không khó để nhận ra một điều hài hước là các lần tuyệt thực đều diễn ra theo một quy trình chung. Ban đầu, thông qua việc thăm gặp người nhà, các đối tượng đang chấp hành án sẽ rêu rao thông tin bản thân mình đang tiến hành tuyệt thực trong trại giam. Sau đó, người nhà của các đối tượng này trở thành cầu nối lan truyền thông tin đến những báo, đài, cũng như những cá nhân, tổ chức phản động, chống đối.
Trên cơ sở nguồn tin từ người thân của các “tù nhân lương tâm”, các hãng báo chí thù địch hoặc thiếu thiện cảm với Việt Nam và các đối tượng chống đối tiến hành viết bài xuyên tạc, thổi phồng sự việc, vu khống bản chất chế độ ta.

Sâu xa của tuyệt thực là gì?

Trong bài viết “Tuyệt thực trong tù để làm gì?” của đối tượng Diễm Quỳnh được Việt Tân và một số website khác đăng tải, rất nhiều lý do được đưa ra như tuyệt thực để bảo vệ quyền lợi cá nhân, chống lại sự bất công, đấu tranh vì nhân quyền… Thông qua việc “múa bút”, những kẻ có hành vi xâm phạm an ninh quốc gia được tô vẽ như những anh hùng: “Tuyệt thực không có nghĩa là người tranh đấu muốn kết cục là cái chết, nhưng họ sẵn sàng chấp nhận cái chết, như một cột mốc để chính quyền xét lại tư cách cầm quyền của mình, trước sự giám sát và phẫn nộ của nhân dân”.
Sự thật hành vi tuyệt thực của những đối tượng xâm hại an ninh quốc gia này chỉ là một chiêu trò chống đối. Đằng sau những lần tuyệt thực là những động cơ hết sức sâu xa về mặt chính trị.
Trước hết, các đối tượng tuyệt thực nhằm đánh bóng tên tuổi và để bản thân không bị lãng quên. Không khó để chúng ta nhận thấy những nhà “dân chủ” đang mọc lên như nấm sau mưa. “Dân chủ” đã trở thành một nghề kiếm cơm của không ít đối tượng. Và hiển nhiên, trong nghề “dân chủ” này, việc cạnh tranh là điều khó có thể tránh được.
Chính vì vậy, khi bị kết án và chấp hành hình phạt tù, nếu không tuyệt thực, không có các hành động chống phá thì tên tuổi của những nhà “dân chủ” cũng sẽ nhanh chóng bị lãng quên. Do không thể từ bỏ những lợi ích nên dù bị kết án phạt tù, các đối tượng vẫn tìm mọi cách để tiến hành các hành động chống đối nhằm thu hút sự chú ý từ các các nhân, tổ chức cũng như các thế lực phản động ở bên ngoài.
Thông qua việc tuyệt thực, các đối tượng đang chấp hành án ở trong nhà tù câu kết với các đối tượng phản động, chống đối ở bên ngoài bôi nhọ chế độ, xuyên tạc bản chất Nhà nước. Muôn vàn thông tin sai lệch liên quan đến việc tuyệt thực được các đối tượng thêu vẽ. Trong đó, lập luận được các đối tượng liên tục sử dụng là Nhà nước ta sử dụng nhà tù để đàn áp, trả thù người chống đối, bất đồng chính kiến, xâm phạm đến nhân quyền của người chấp hành án.
Đây là thông tin bịa đặt một cách trắng trợn, thể hiện sự thâm hiểm của các đối tượng phản động. Bởi lẽ, với lập luận trên, các đối tượng phủ nhận sạch trơn việc bản thân có hành vi vi phạm pháp luật. Mặt khác, các đối tượng vu khống nhà nước ngăn cản các quyền lợi chính đáng của người dân. Suy cho cùng, đích đến của các đối tượng này cũng chỉ để thực hiện mưu đồ xâm hại an ninh quốc gia của Việt Nam.
Mặt khác, qua hành vi tuyệt thực, các đối tượng thổi phồng sự việc, từ đó kêu gào sự giúp đỡ từ các tổ chức bên ngoài nhằm gây sức ép với Việt Nam. Thông qua bàn tay của các tổ chức thiếu thiện chí với Việt Nam, các đối tượng chờ đợi những tác động nhằm giúp bản thân được sớm ra tù.
Ngoài ra, chúng ta cũng thấy rõ, việc tuyệt thực chính là một cách để các đối tượng phản động, chống đối tạo cớ cho các tổ chức bên ngoài can thiệp vào công việc nội bộ của đất nước ta. Trước hết, đó là các cá nhân, tổ chức phản động, cơ hội chính trị người Việt ở trong và ngoài nước. Các nhóm trên có sự câu kết chặt chẽ với nhau nhằm thực hiện mục tiêu chung là chống phá Nhà nước, xoá bỏ chế độ, xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản ở nước ta.
Thực tế, các đối tượng lu loa “tuyệt thực”, song tại trại giam cho thấy, các phạm nhân này vẫn ăn uống bình thường theo tiêu chuẩn quy định, thậm chí họ còn tiếp nhận thực phẩm tiếp tế từ gia đình khá đầy đủ.
Với chiêu trò tuyệt thực, các đối tượng bị kết án đã tạo ra cái cớ để những thế lực bên ngoài thò tay vào công việc nội bộ của nước ta, tạo lý do để các bản phúc trình về dân chủ, nhân quyền có nội dung sai lệch được công bố.
Hành động tuyệt thực của các đối tượng thể hiện sự chống đối quyết liệt, ngoan cố và thiếu tôn trọng pháp luật. Nguy hiểm hơn, hành động này lại được không ít kẻ cổ suý, tung hô và sử dụng vào việc xâm hại đến lợi ích quốc gia của Việt Nam. Bên cạnh việc xử lý những kẻ có hành vi sai phạm, Đảng, Nhà nước đẩy mạnh việc tuyên truyền các thông tin chính thống, chủ động đấu tranh với các thông tin sai lệch về vấn đề tuyệt thực để người dân hiểu rõ sự thật, cảnh giác với các âm mưu, hành vi chống phá.
Trần Anh Tú

Thứ Tư, 26 tháng 6, 2019

CÔNG BỐ KẾT LUẬN THANH TRA KHU ĐÔ THỊ MỚI THỦ THIÊM

Chiều 26/6, Thanh tra Chính phủ đã công bố Kết luận thanh tra về công tác quản lý nhà nước và thực hiện pháp luật trong quy hoạch, quản lý xây dựng, đất đai tại Khu đô thị mới Thủ Thiêm, Thành phố Hồ Chí Minh.
CÔNG BỐ KẾT LUẬN THANH TRA KHU ĐÔ THỊ MỚI THỦ THIÊM

Kết luận nêu rõ: Đến thời điểm thanh tra, Khu đô thị mới Thủ Thiêm đã giải phóng mặt bằng trên 99%; công tác đền bù, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, tái định cư cơ bản được thực hiện theo quy định; ký hợp đồng với một số nhà đầu tư dự án, chủ yếu theo hình thức BT như: 4 tuyến đường chính; Cầu Thủ Thiêm 2; Hạ tầng kỹ thuật Khu dân cư phía Bắc, hoàn thiện đường trục Bắc - Nam đoạn từ chân Cầu Thủ Thiêm 1 đến đường Mai Chí Thọ...
Trong những năm qua, đứng trước nhiều khó khăn, biến động khó lường về kinh tế, xã hội trong và ngoài nước, nhất là thị trường bất động sản có thời gian bị khủng khoảng; hơn nữa đây là Khu đô thị với quy mô rất lớn, số lượng, phạm vi các hộ dân bị ảnh hưởng rộng lớn; nhưng với sự nỗ lực, cố gắng của các cấp, các ngành và UBND Thành phố trong việc kêu gọi, thu hút nhà đầu tư để triển khai thực hiện, Khu đô thị mới Thủ Thiêm đã dần hình thành một khu đô mới thị hiện đại.
Tuy nhiên, Kết luận chỉ rõ, trong quá trình thực hiện đầu tư, xây dựng Khu đô thị mới Thủ Thiêm, UBND Thành phố và các sở, ngành liên quan đã có nhiều khuyết điểm, vi phạm.
Liên quan đến việc chấp hành pháp luật trong quy hoạch, quản lý sử dụng đất đai, UBND Thành phố ban hành Điều lệ quản lý xây dựng Khu đô thị mới Thủ Thiêm chưa đầy đủ, kịp thời; không thực hiện việc lập các dự án theo thứ tự ưu tiên và trình duyệt theo quy định, theo ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ... Vi phạm này dẫn đến việc đầu tư xây dựng các dự án thiếu đồng bộ, khó quản lý; có nơi buông lỏng quản lý, chậm triển khai đầu tư xây dựng.
UBND Thành phố ban hành Điều lệ quản lý xây dựng Khu đô thị mới Thủ Thiêm chưa đầy đủ, kịp thời; không thực hiện việc lập các dự án theo thứ tự ưu tiên và trình duyệt theo quy định theo ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, chỉ lập, trình, duyệt dự án khi đã có nhà đầu tư tham gia mà không theo thứ tự ưu tiên. Vi phạm này dẫn đến việc đầu tư xây dựng các dự án thiếu đồng bộ, khó quản lý, có nơi buông lỏng quản lý việc đầu tư xây dựng, chậm triển khai đầu tư xây dựng...
Các cơ quan chức năng liên quan của Thành phố đã đề xuất và được Thường trực Thành ủy, UBND Thành phố phê duyệt chi phí đầu tư bình quân cho 1m2 đất thương mại - dịch vụ - nhà ở là 26 triệu đồng/m2. Chi phí đầu tư bình quân này chênh lệch giảm khoảng 50% so với đơn giá đã được các sở, ngành đề xuất ban đầu với lý do loại bớt một số chi phí cho các hạng mục công trình đã được phê duyệt quy hoạch có tổng giá trị là 17.042 tỷ đồng (gồm: Quảng trường trung tâm, công viên bờ sông Sài Gòn, Khu lâm viên sinh thái phía Nam, 6 trường công lập và 5 cây cầu nối từ Trung tâm Thành phố qua Khu đô thị mới Thủ Thiêm) là không đầy đủ và không đúng quy định.
Ngoài ra, khi đề xuất phương án giá trên, các sở, ngành và UBND Thành phố đã không tính lãi đối với khoản tiền được tạm ứng từ ngân sách nhà nước, dẫn đến, tổng mức đầu tư đã xác định và phê duyệt là không đúng quy định. Việc UBND Thành phố và các sở, ngành lấy giá 26 triệu đồng/m2 làm giá tối thiểu để xác định giá trị quyền sử dụng đất theo phương pháp thặng dư hoặc tự thỏa thuận khi giao đất cho nhà đầu tư tại các dự án trong Khu đô thị mới Thủ Thiêm là không đầy đủ, thiếu chính xác và không đúng quy định.
Toàn bộ quỹ đất trong Khu đô thị mới Thủ Thiêm là 221,68 ha được tạo ra bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, UBND Thành phố đã sử dụng chủ yếu để thanh toán đối ứng cho các dự án BT được chỉ định nhà đầu tư, nhất là các dự án đầu tư hạ tầng kỹ thuật phục vụ cho chính Khu đô thị mới Thủ Thiêm, không thông qua hình thức đấu thầu dự án hoặc giao đất có thu tiền sử dụng đất không qua đấu giá quyền sử dụng đất là vi phạm các quy định về đấu thầu và quản lý sử dụng đất đai.
“Như vậy, UBND Thành phố đã sử dụng đơn giá bằng chi phí đầu tư bình quân là 26 triệu đồng/m2 không đầy đủ, thiếu chính xác, không đúng quy định làm giá tối thiểu để tính tiền sử dụng đất thanh toán đối ứng cho các dự án BT, nhất là các dự án đầu tư hạ tầng kỹ thuật phục vụ cho chính Khu đô thị mới Thủ Thiêm đã được chỉ định nhà đầu tư, hoặc giao đất có thu tiền sử dụng đất không thông qua hình thức đấu giá đất theo quy định. Từ đó, các nhà đầu tư được hưởng lợi do chênh lệch giá đất lớn (chênh lệch địa tô) từ việc được đầu tư hạ tầng kỹ thuật chính theo hình thức hợp đồng BT”, kết luận thanh tra nêu rõ.
Nguyên nhân và trách nhiệm chính đã để xảy ra các khuyết điểm, vi phạm trên là do lãnh đạo UBND Thành phố không thực hiện đầy đủ chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ; trách nhiệm liên quan thuộc các sở, ngành như: Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính, Tài nguyên và Môi trường, Xây dựng, Ban Quản lý Khu đô thị mới Thủ Thiêm...
Cũng theo kết luận thanh tra, việc đầu tư Khu đô thị mới Thủ Thiêm còn mất cân đối vốn khoảng 8.734 tỷ đồng. Cụ thể, theo báo cáo của UBND Thành phố về đánh giá tổng quan cân đối vốn khi đầu tư Khu đô thị mới Thủ Thiêm và kết quả thanh tra, tổng chi phí phải trả là hơn 83.335 tỷ đồng (gồm chi phí đầu tư và lãi tiền tạm ứng từ ngân sách). Tổng thu dự kiến đến nay là hơn 74.601 tỷ đồng (bao gồm giá trị 55 lô đất còn lại tạm tính theo giá thẩm định tại thời điểm năm 2016). Trách nhiệm liên quan đến các khuyết điểm, vi phạm nêu trên thuộc lãnh đạo UBND Thành phố và các sở, ngành như: Tài chính, Tài nguyên và Môi trường, Ban Quản lý Khu đô thị mới Thủ Thiêm.
Căn cứ kết quả thanh tra, Tổng thanh tra Chính phủ kiến nghị Thủ tướng chỉ đạo UBND Thành phố thu hồi, hoàn trả ngay khoản tiền đã tạm ứng từ ngân sách Nhà nước không đúng quy định đã đầu tư cho Khu đô thị mới Thủ Thiêm, đến 30/9/2018 là hơn 26.315 tỷ đồng; sớm có giải pháp huy động các nguồn vốn hợp pháp để trả nợ các khoản vay ngân hàng đã đầu tư cho Khu đô thị mới này là trên 4.286 tỷ đồng.
UBND Thành phố cũng có trách nhiệm nghiên cứu các phương án khai thác quỹ đất còn lại trong Khu đô thị mới Thủ Thiêm, tính lại tiền sử dụng đất của các dự án đã giao cho nhà đầu tư; đảm bảo không thất thoát tài sản nhà nước và khắc phục tình trạng mất cân đối khi đầu tư xây dựng Khu đô thị mới này...
Thanh tra Chính phủ cũng kiến nghị Thủ tướng giao Bộ Tài chính chủ trì phối hợp với các Bộ: Xây dựng, Tài nguyên Môi trường, Kế hoạch Đầu tư), UBND Thành phố... xác định đúng chi phí đầu tư bình quân đối với diện tích đất sạch mà nhà nước đã dùng tiền ngân sách để đền bù, giải phóng mặt bằng, đầu tư hạ tầng Khu đô thị mới Thủ Thiêm. Trên cơ sở đó làm mức giá khởi điểm để đấu giá quyền sử dụng đất và lựa chọn nhà đầu tư dự án theo quy định. Trong đó, kiểm tra, làm rõ và báo cáo Thủ tướng đối với khoản lãi trên số tiền tạm ứng từ ngân sách nhà nước khoảng 10.503 tỷ đồng; xem xét, kiến nghị xử lý đối với khoản chênh lệch do xác định, trình và phê duyệt chi phí đầu tư bình quân 17.042 tỷ đồng. Các công việc nêu trên được đề nghị hoàn thành trước ngày 30/9/2019 để báo cáo Thủ tướng.
Kiểm toán Nhà nước được kiến nghị vào cuộc, xác định lại tổng mức đầu tư, giá trị tiền sử dụng đất theo giá thị trường và quy định của pháp luật, nhằm tránh thất thoát tiền của Nhà nước, khắc phục tình trạng mất cân đối vốn như hiện nay đối với các dự án BT đang thực hiện trong Khu đô thị mới Thủ Thiêm.
UBND Thành phố chủ trì thành lập tổ công tác phối hợp với các bộ, ngành liên quan rà soát việc thay đổi quy hoạch chi tiết tại các dự án đã và đang đầu tư xây dựng, cụ thể như khu dân cư phía Nam đường Mai Chí Thọ...; rà soát các dự án đã có quyết định giao đất để xem xét, xử lý, tính toán lại giá trị quyền sử dụng đất theo đúng quy định của pháp luật, tránh thất thoát tiền của Nhà nước. Tổ công tác cũng có trách nhiệm chỉ đạo, tạo điều kiện thuận lợi để các nhà đầu tư tiếp tục thực hiện dự án, nhằm sớm hoàn thành việc đầu tư xây dựng Khu đô thị mới Thủ Thiêm.
Thanh tra Chính phủ chuyển Kết luận thanh tra đến Ủy ban Kiểm tra Trung ương để xem xét, xử lý theo thẩm quyền đối với các tổ chức, cá nhân thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý có liên quan đến khuyết điểm, vi phạm được nêu trong Kết luận. “Trong quá trình xử lý về trách nhiệm và kinh tế sau thanh tra, nếu không khắc phục được hoặc khắc phục không triệt để các vi phạm về kinh tế gây thiệt hại tài sản nhà nước trước ngày 31/12 thì chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra để xem xét, xử lý theo quy định của pháp luật”, Kết luận thanh tra nêu rõ./.

Thứ Sáu, 21 tháng 6, 2019

QUỐC HỘI, NGƯỜI ĐẠI DIỆN CHÂN CHÍNH CHO Ý CHÍ VÀ NGUYỆN VỌNG CỦA NHÂN DÂN

Một số trang mạng và tài khoản cá nhân trên internet đang có những bình luận xấu độc về hoạt động của Quốc hội Việt Nam. Họ cho rằng đây là Quốc hội của Đảng chứ không phải của nhân dân vì có tới hơn 90% đại biểu là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

QUỐC HỘI, NGƯỜI ĐẠI DIỆN CHÂN CHÍNH CHO Ý CHÍ VÀ NGUYỆN VỌNG CỦA NHÂN DÂN
Quốc hội, người đại diện chân chính cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân.
Thể chế bầu cử của Việt Nam là “Đảng chọn dân bầu”… Vậy vì sao các thế lực thù địch, những người tự gọi là “người bất đồng chính kiến” lại tung ra những luận điệu đó? Qua bài viết này, chúng tôi xin góp phần giải đáp những vấn đề trên.
Xuyên suốt các Hiến pháp của Việt Nam từ Hiến pháp 1946 - Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, đến Hiến pháp 2013 của nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa (XHCN) Việt Nam đều quy định: Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được bầu cử theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Nhân dân thực hiện quyền lực Nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, hội đồng nhân dân (HĐND) và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước.
Điều 69, Hiến pháp 2013 quy định: “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước”. Về quan hệ giữa các cơ quan Nhà nước là “có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” (Khoản 3, Điều 2 - Chế độ chính trị).
Hiến pháp 2013 quy định về bầu cử như sau: Việc bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND được tiến hành theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Công dân đủ 18 tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ 21 tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, HĐND. ĐBQH là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân ở đơn vị bầu cử ra mình và của nhân dân cả nước.
Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND quy định: Mỗi cử tri có quyền bỏ một phiếu bầu ĐBQH và bỏ một phiếu bầu đại biểu HĐND tương ứng với mỗi cấp. Cử tri phải tự mình đi bầu cử, không được nhờ người khác bầu cử thay, trừ trường hợp cử tri vì khuyết tật không tự bỏ phiếu được thì nhờ người khác bỏ phiếu vào hòm phiếu. Luật cũng quy định: Trong trường hợp cử tri ốm đau, già yếu, khuyết tật không thể đến phòng bỏ phiếu được thì tổ bầu cử sẽ mang hòm phiếu phụ và phiếu bầu đến chỗ ở, chỗ điều trị của cử tri để cử tri nhận phiếu và thực hiện bầu cử. Cử tri không thể tự viết được phiếu bầu thì nhờ người khác viết hộ nhưng phải tự mình bỏ phiếu; người viết hộ phải bảo đảm bí mật phiếu bầu của cử tri.
Những quy định về bầu cử của pháp luật Việt Nam là tiên tiến, công bằng và bình đẳng nhất. Ở một số quốc gia, như Hoa Kỳ chẳng hạn, việc bầu cử nguyên thủ (tổng thống và phó tổng thống) do các Đại cử tri (Elector) của các bang chứ không phải do dân bầu trực tiếp. Trước đó ở mỗi bang sẽ cử ra một số đại cử tri bằng đúng tổng số Thượng nghị sĩ và Hạ nghị sĩ của bang. Như vậy chỉ có phiếu của đại cử tri mới quyết định chức vụ nguyên thủ.
Theo báo cáo của Hội đồng Bầu cử quốc gia, cuộc bầu cử ĐBQH khóa XIV, năm 2016 như sau: Tổng số cử tri đủ điều kiện bầu cử là 67.485.482 người, trong đó số cử tri đã tham gia bỏ phiếu là 67.049.091 người, đạt tỷ lệ 99,35%. Cơ cấu (kết hợp) như sau: Đại biểu là người dân tộc thiểu số: 86 người (đạt 17,30%); phụ nữ: 133 người (đạt 26,80%); đại biểu là người ngoài Đảng có 21 người (đạt 4,20%)… Như vậy có thể nói cuộc bầu cử ĐBQH được nhân dân ta đặc biệt quan tâm; cơ cấu đại biểu toàn diện bao gồm cả người ngoài Đảng; các cơ quan chức năng chuẩn bị chu đáo, nghiêm túc nhằm bảo đảm kết quả đúng với đánh giá của cử tri.
Tỷ lệ đại biểu là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam cao chỉ chứng tỏ là uy tín của Đảng Cộng sản Việt Nam rất cao trong nhân dân Việt Nam. Và do đó, việc những người ngoài Đảng ứng cử, nhưng không trúng cử cũng là điều dễ hiểu. Còn nhớ, trong cuộc bầu cử ĐBQH khóa XIV, một tiến sĩ khoa học từng có nhiều bài viết trên mạng “phản biện” chế độ xã hội do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, được nhiều “người bất đồng chính kiến” đề cao nên tự tin tự ứng cử. Song hội nghị cử tri (theo luật định) tại địa phương đã bỏ phiếu với kết quả 6/75. Kết cục ứng cử viên này đã bị loại.
Hoạt động lập pháp của Quốc hội Việt Nam trong thời gian qua, nhất là từ sau Hiến pháp 2013 có nhiều đổi mới về nội dung và phương pháp tiến hành. Về nội dung, pháp luật Việt Nam ngày nay không thể “sao chép” theo tư duy cũ mà phải bảo đảm đúng với quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước và tinh thần Hiến pháp 2013, trong đó bảo đảm các nguyên tắc: Pháp luật là tối thượng; kinh tế thị trường theo định hướng XHCN; toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, thực tế xã hội-tâm tư nguyện vọng của nhân dân và bảo đảm quyền con người. Hoạt động lập pháp ngày nay cũng phải kịp thời thể chế hóa nguyên tắc quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Hoạt động lập pháp cũng gắn liền với đổi mới tổ chức, hoạt động của Chính phủ và chính quyền địa phương cũng như các cơ quan tư pháp. Một trong những đổi mới của Quốc hội khóa XIV là tăng số lượng đại biểu chuyên trách. Trong hoàn cảnh của Việt Nam, theo Luật Tổ chức Quốc hội (có hiệu lực từ ngày 01/01/2016), ĐBQH gồm: Đại biểu chuyên trách và đại biểu kiêm nhiệm. Đại biểu chuyên trách dành toàn bộ thời gian làm việc để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đại biểu của mình; đại biểu kiêm nhiệm dành 30% thời gian cho hoạt động của Quốc hội. Theo đó, cơ cấu Quốc hội khóa XIV có 114 đại biểu chuyên trách Trung ương (thuộc các cơ quan của Quốc hội) và 67 đại biểu chuyên trách địa phương, còn lại là đại biểu kiêm nhiệm.
Giám sát đang là một hoạt động được tăng cường, nhất là trong khóa XIV. Hoạt động giám sát hiện nay tập trung vào việc thực hiện chính sách xóa đói, giảm nghèo, tình trạng ô nhiễm môi trường, quản lý đất đai…  Tại Kỳ họp thứ bảy, Quốc hội đã biểu quyết, năm 2020 thực hiện giám sát chuyên đề “Thực hiện chính sách, pháp luật về phòng, chống xâm hại trẻ em”. Đây là một trong những vấn đề mà cử tri đang bức xúc.
Sinh hoạt của Quốc hội Việt Nam đã và đang đổi mới theo hướng dân chủ-thẳng thắn; phản ánh sát, cập nhật những vấn đề-kể cả vụ việc đang diễn ra mà cử tri quan tâm. Ví dụ, tại Kỳ họp thứ bảy, trước khi thông qua dự án Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia các ĐBQH đã có cuộc trao đổi rất cởi mở về việc có nên quy định cấm người điều khiển phương tiện giao thông sử dụng rượu, bia khi tham gia giao thông hay không? Kết quả quy định này đã được thông qua với 374/446 (chiếm 77,27% tổng số đại biểu).
Sở dĩ các thế lực thù địch, những kẻ cơ hội tập trung công kích Quốc hội Việt Nam thật không có gì khó hiểu. Đây là thủ đoạn nằm trong chiến lược chống phá Việt Nam toàn diện - từ vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam đến toàn bộ hệ thống chính trị các cấp. Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất, thực hiện âm mưu xuyên tạc, bôi nhọ cơ quan này, các thế lực thù địch hy vọng sẽ làm giảm niềm tin của nhân dân đối với chế độ xã hội, dần dần tiến tới chuyển hóa chế độ XHCN ở Việt Nam.
BẮC HÀ

Thứ Tư, 19 tháng 6, 2019

HOÀNG SA - TRƯỜNG SA - BIỂN ĐÔNG, KHẢ NĂNG GIỮ VỮNG VÀ KHẢ NĂNG THU HỒI.

Tất cả các nước phát triển trên thế giới đều là các quốc gia Biển. Đảng ta đã xác định chủ trương phát triển kinh tế Biển: “Việt Nam phải trở thành một quốc gia Biển, phải mạnh lên từ Biển, vươn ra Biển, làm giàu từ Biển”. Biển Đông có giá trị vô cùng to lớn, là cửa ngõ, là con đường để chúng ta vươn lên sánh ngang với các cường quốc Năm Châu như mong ước của Bác. Chúng ta phải làm gì? Chúng ta phải giữ vững chủ quyền, chuẩn bị các điều kiện cần và đủ để từng bước giành lại chủ quyền hợp pháp của mình với những đảo đã bị chiếm giữ trái phép.

HOÀNG SA - TRƯỜNG SA - BIỂN ĐÔNG, KHẢ NĂNG GIỮ VỮNG VÀ KHẢ NĂNG THU HỒI.

Vấn đề Hoàng Sa, Trường Sa và Biển Đông đã có nhiều người đặt ra những câu hỏi thắc mắc, có người không nhận được câu trả lời thỏa đáng, đã vậy họ lại bị các thế lực thù địch xuyên tạc dắt mũi để kích động chống phá gây khó khăn thêm cho công cuộc giữ nước, thậm chí vô tình tiếp tay cho kẻ thù có thời cơ chiếm thêm lãnh thổ nước mình.

Ở PHẠM VI BÀI VIẾT NÀY, TÔI XIN TRAO ĐỔI VỚI CÁC BẠN ĐỂ TA CÙNG TRẢ LỜI CHO 3 CÂU HỎI:
1. QUẦN ĐẢO HOÀNG SA VÀ MỘT SỐ ĐẢO THUỘC QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA ĐÃ BỊ XÂM CHIẾM NHƯ THẾ NÀO?
2. KHẢ NĂNG GIỮ CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO CỦA TA HIỆN NAY?
3. KHẢ NĂNG THU HỒI CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO ĐÃ BỊ CHIẾM?

Trả lời cho câu hỏi thứ nhất:
QUẦN ĐẢO HOÀNG SA VÀ MỘT SỐ ĐẢO THUỘC QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA BỊ XÂM CHIẾM NHƯ THẾ NÀO?
Lịch sử cho thấy kể từ lần thứ nhất năm 1946, trong tình thế đất nước ta ngàn cân treo sợi tóc trước sự trở lại của người Pháp và đó cũng là lúc Liên Hiệp Quốc yêu cầu người Trung Quốc (đó là 20 vạn quân Tưởng Giới Thạch) đến giải giáp quân Nhật. Lúc đó, khoảng trống có lợi cho Trung Quốc, họ ra đòn. Họ cũng tranh thủ chiếm luôn đảo Phú Lâm (thuộc quần đảo Hoàng Sa) và đảo Ba Bình (thuộc quần đảo Trường Sa). Năm 1949, Trung Quốc giải phóng thành lập nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, họ đã tiếp tục lộ rõ ý đồ chiếm các đảo của Việt Nam.
Lần thứ hai vào năm 1956, sau hiệp định Geneva, người Pháp phải rút đi, để lại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho chính quyền tay sai Mỹ tiếp quản, quân đội Ngụy lúc này chưa mạnh, chưa có tàu nên Trung Quốc chiếm gần như toàn bộ phần phía đông của quần đảo Hoàng Sa. Lần thứ ba là năm 1959 họ ra đòn nhưng không thành công. Trung Quốc mang quân qua chiếm nốt phần phía Tây của quần đảo Hoàng Sa nhưng Ngụy quân VNCH đã có mặt ở đó.
Lần thứ tư là năm 1974, Trung Quốc mang quân tấn công phần phía tây quần đảo Hoàng Sa đang do quân đội Ngụy VNCH quản lý. Theo tài liệu của Bộ Ngoại giao Việt Nam, trong chuyến thăm của Tổng thống Nixon tới Trung Quốc năm 1972, Trung Quốc đã thoả thuận với chính quyền Nixon một cuộc mua bán bẩn thỉu trên lưng nhân dân Việt Nam, thể hiện trong Thông cáo Thượng Hải. Theo đó, Trung Quốc mưu toan dùng “con bài Việt Nam” để ngoi lên địa vị một cường quốc lớn, bình thường hoá quan hệ Trung - Mỹ và giải quyết vấn đề Đài Loan. Còn chính quyền Nixon có thể cứu vãn và khôi phục địa vị trên thế giới đã bị suy yếu nghiêm trọng do hậu quả của cuộc chiến tranh Việt Nam và bắt đầu thực hiện chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh”. Do vậy, chính quyền Nixon đã không có bất cứ động thái nào đáp ứng lời cầu cứu của chính quyền VHCN khi quần đảo Hoàng Sa bị Trung Quốc xâm lược. Đã vậy, Mỹ còn trực tiếp can thiệp không cho Thiệu dùng không quân tại Đà Nẵng ra đánh chiếm lại Hoàng Sa. Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn đe dọa cắt viện trợ, buộc Thiệu phải thu hồi lệnh.
Ngày 14/3/1988, quân đội chúng ta vẫn đang làm nhiệm vụ thời chiến ở biên giới Tây Nam và phía Bắc. Thời điểm đó, chúng ta cũng bị cấm vận bốn bề, bị bao vây cô lập không khác gì Triều Tiên hiện nay khi chỉ có 13 nước ủng hộ ta, còn lại đều lên án ta xâm lược Campuchia do nghe theo Mỹ và Trung Quốc tuyên truyền. Thời cơ đó Trung Quốc đã đưa quân vào chiếm đảo Gạc Ma ở quần đảo Trường Sa.

Trả lời cho câu hỏi thứ hai:
KHẢ NĂNG GIỮ CHỦ QUYỀN BIỂN ĐẢO CỦA TA HIỆN NAY?

Âm mưu của Trung Quốc và quyết tâm của ta?
Đảng ta đã nhận định: “Độc chiếm Biển Đông là âm mưu xuyên suốt các đời lãnh đạo Trung Quốc”. Từ năm 1946 đến nay Trung Quốc đã 5 lần đánh chiếm đảo của ta trên Biển Đông.
Ngày nay, Trung Quốc còn âm mưu đó không hẳn ai cũng rõ. Tham vọng đường lưỡi bò và quân sự hóa Biển Đông là một minh chứng nhưng ít ai biết rằng Lãnh đạo Trung Quốc đã hỏi Tướng lĩnh Quân giải phóng Trung Quốc: “Nếu đánh chiếm toàn bộ Trường Sa thì có chiếm được không, bao lâu thì chiếm được?”
Hiện nay, Trung Quốc đang âm mưu TẠO THẾ, TẠO LỰC và CHỜ THỜI để độc chiếm Biển Đông.
VỀ TẠO THẾ, Trung Quốc đang xây dựng thế trận liên hoàn từ Không quân, Hải quân, thế bố trí chiến lược các lực lượng và điểm tựa trên Biển Đông, kể cả sử dụng Campuchia như một con bài gây sức ép vào sau lưng Việt Nam cũng nằm trong thế trận chúng dựng lên.
VỀ TẠO LỰC, Trung Quốc đã cải tổ Quân đội, giảm vai trò của Lục quân, tập trung tăng cường phát triển Hải quân. Quân sự hóa các đảo đã chiếm giữ, xây dựng sân bay, cảng trú cho tàu thuyền, đưa tên lửa và ra đa lên các đảo ở Biển Đông, đóng mới hàng loạt chiến hạm, tàu sân bay...
VỀ CHỜ THỜI, theo các bạn, khi nào là thời cơ để họ đánh chiếm đảo của ta? Nhìn lại những lần Trung Quốc đánh chiếm đảo của ta thì chúng ta thấy, họ đều tận dụng thời cơ đất nước chúng ta loạn lạc, suy yếu, bị bao vây cô lập để đánh chúng ta. Tương lai cũng sẽ như thế, họ đợi chúng ta mất ổn định chính trị xã hội, đất nước rối loạn kích động thế giới can thiệp cô lập. Đó là thời cơ để ra tay. Họ có đủ thế, đủ lực nhưng thời cơ chưa đến thì họ không bao giờ ra tay. Vì vậy, phải giữ vững hòa bình, ổn định cho đất nước, không để xảy ra bạo loạn diện rộng để kẻ thù có thời cơ thôn tính biển đảo của ta. Đó là lý do, nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang tiếp xúc cử tri Thành phố Hồ Chí Minh đã nói: “Đồng bào hãy yêu nước bằng cái đầu lạnh và trái tim nóng”, có như thế thì ta mới đủ tỉnh táo, sáng suốt để đấu trí với kẻ thù. Các cụ đã dạy: “Cả giận, mất khôn”, khi cái đầu nóng thì hành xử sao khôn ngoan được, chỉ tạo cớ cho kẻ thù mà thôi.
Về quyết tâm của ta: Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng khi tiếp xúc cử tri đã nói: “Mất đảo là mất nước”. Vậy mất nước thì chúng ta sẽ làm gì? Các bạn đã có câu trả lời cho mình rồi.
Âm mưu của địch là vậy, quyết tâm của ta là thế. Vậy khả năng của ta đến đâu?
Xét ở mặt đối tượng. Ở thế đối đầu 2 quốc gia bất kỳ thì người ta xét trên 4 mặt sức mạnh răn đe: Một là, răn đe về kinh tế, hai là răn đe về ngoại giao, ba là răn đe về chính trị, bốn là răn đe về quân sự.
Về kinh tế, quy mô nền kinh tế Trung Quốc gấp 86 lần Việt Nam, với ta là con Trâu thì với họ chỉ là bó rau muống. Tuy nhiên, kinh tế Việt Nam hoàn toàn không lệ thuộc kinh tế Trung Quốc, đòn kinh tế không răn đe được Việt Nam.
Về ngoại giao, Việt Nam ở thế chính nghĩa, được cả thế giới ủng hộ, trừ một vài nước bị khống chế về lợi ích với Trung Quốc mà có tiếng nói bất lợi cho Việt Nam. Ví dụ trong vụ giàn khoan Hải Dương 981, cả thế giới đứng về phía Việt Nam, đó là kết quả của cuộc đấu tranh ngoại giao và tuyên truyền quyết liệt. Về ngoại giao, trong vụ này Trung Quốc đã thua ta.
Về chính trị, chính trị Trung Quốc có nét tương đồng Việt Nam, đều do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Tuy nhiên, Trung Quốc không răn đe được Việt Nam về chính trị. Bằng chứng là Việt Nam đã đập lại Trung Quốc năm 1979 khi Trung Quốc xâm phạm biên giới Việt Nam. Thực tế, trong lịch sử chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa duy trì được sự độc lập khi không chấp nhận cho Trung Quốc đem quân tới Việt Nam trực tiếp tham chiến hoặc can thiệp vào đường lối chiến lược của mình. Có những lúc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã từ chối nhận viện trợ của Trung Quốc nếu khoản viện trợ đó đi kèm những điều kiện được xem là vi phạm chủ quyền của Việt Nam. Trung Quốc đã từng đề nghị đưa cả chục vạn dân quân sang xây dựng đảm bảo toàn bộ tuyến đường Trường Sơn cho Việt Nam nhưng Việt Nam đã từ chối dù lúc đó ta rất cần. Ngày nay thì sao? Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng tranh cãi trực tiếp với Tổng Bí thư, Chủ tịch nước CHND Trung Hoa Hồ Cẩm Đào về chủ quyền Biển Đảo. Bước vào Hội nghị, ông Đào nói: “Tây Sa, Nam Sa là chủ quyền của Trung Quốc, nếu Trung Quốc không thu hồi thì nhân dân Trung Quốc không tin vào Đảng Cộng sản Trung Quốc”. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nói: “Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam, nếu Đảng Cộng sản Việt Nam không giữ được chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa thì nhân dân Việt Nam cũng không tin Đảng Cộng sản Việt Nam. Đài Loan là của Trung Quốc, Trung Quốc không thu hồi tại sao nhân dân Trung Quốc vẫn tin Đảng Cộng sản Trung Quốc?” Hồ Cẩm Đào cứng lưỡi không biết nói gì, nhìn lên trần nhà (theo lời kể của Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn nguyên Cục trưởng Cục Tuyên huấn).
Về quân sự, Trung Quốc được đánh giá mạnh gấp 10 lần Việt Nam. Binh pháp Tôn Tử chỉ ra: “Phép dụng binh, gấp mười lần địch thì bao vây, gấp năm lần địch thì tấn công, gấp đôi chì chia ra mà đánh, bằng địch thì phải đánh khéo, kém địch thì rút, tránh giao tranh với địch. Binh yếu mà đánh thẳng tất bị bắt làm tù binh”. Nhưng với Việt Nam thì phép dụng binh này của Tôn Tử không áp dụng được vì Việt Nam chuyên đánh với thằng mạnh gấp trăm lần mình, chứ 10 lần ăn thua gì.
 Đảng ta xác định: “Xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, tập trung xây dựng Hải quân, PKKQ, thông tin tác chiến điện tử tiến thẳng lên hiện đại”. Vậy chúng ta đã làm gì để xây dựng tiềm lực quân sự đủ sức răn đe:
Về vũ khí:
Với Hải quân, chúng ta đã mua 6 tầu ngầm Ki lô 636, đặt thêm những tính năng hiện đại vượt trội, đặc biệt là khả năng phóng tên lửa đối đất Club B, loại tên lửa hải đối đất này có tầm bắn tới gần 280km, sức hủy diệt vô cùng lớn, đủ để xóa sổ 1 đảo nhỏ hay đánh chìm một chiếm hạm lớn cỡ tàu sân bay chỉ bằng 1 phát bắn, làm tê liệt căn cứ tầu ngầm, tàu mặt nước của đối phương. Đó là lý do, Trung Quốc điên cuồng tìm cách ngăn chặn Việt Nam sở hữu loại tên lửa này, tiếc cho Trung Quốc là hợp đồng đã được ký và tên lửa đã được chuyển giao cho Việt Nam trước khi Trung Quốc kịp can thiệp. Bên cạnh tầu ngầm ta trang bị nhiều tầu mặt nước có khả năng tác chiến mạnh, tốc độ cao, hỏa lực mạnh với những cú đốt chết người như “Tia chớp- Molniya ” Gepard 3.9, và rất nhiều tàu tên lửa nhỏ “Ong độc”, nhỏ nhưng bay cực nhanh và đốt cực đau.
Với dải bờ biển dài, chiều sâu phòng thủ biển nằm trong tầm tên lửa bờ (tên lửa đất đối hải), đó là ưu thế lớn. Chúng ta có 1 chiến hạm không bao giờ chìm đó chính là đất liền. Bộ 3 hệ thống tên lửa phòng thủ bờ cực mạnh của Hải quân Việt Nam gồm Redut-M, 4K51 Rubezh và tổ hợp K-300P Bastion-P, bán kính tác chiến từ 300km đến 500km. Tổ hợp K-300P Bastion-P là hiện đại nhất, đầu đạn nặng gần 1 tấn, tốc độ bay lớn, độ chính xác cao, uy lực cực mạnh, đủ để xé đôi một chiến hạm cỡ lớn chỉ với 1 phát bắn. Đến nay, Mỹ vẫn chưa có biện pháp hiệu quả để khắc chế loại tên lửa này.
Với PKKQ, ta có các máy bay hiện đại Su -30 MK2 có bán kính tác chiến bao trùm Đông Nam Á, được thiết kế chuyên tác chiến Biển, là loại tiêm kích đa năng mang bom, tên lửa đối không và đặc biệt là tên lửa đối hải diệt tàu mặt nước hiện đại với uy lực lớn. Về tên lửa phòng không ta có nhiều loại, nhiều tầng, nhiều lớp, hiện đại nhất là S -300 PMU1 và tương lai sẽ trang bị hiện đại hơn.
Bên cạnh việc mua sắm vũ khí ta cũng đẩy mạnh nghiên cứu chế tạo, những năm qua ta đã cử hàng nghìn học viên đi nghiên cứu học tập về khoa học chế tạo vũ khí ở Nga và các nước phát triển đồng thời tiếp nhận bàn giao công nghệ, tự phát triển công nghệ chế tạo tên lửa các loại đủ để tự chủ vũ khí hiện đại trong tương lai, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc.
Về chiến thuật tác chiến biển:
Ta sử dụng chiến thuật tác chiến phi đối xứng, chống tiếp cận để phát huy tối đa lợi thế địa hình của ta. Ngoài ra ta có khả năng khống chế Biển Đông, khóa chặt đường Biển, đánh vào hậu cần của địch. Ta biết rằng 1/3 lượng hàng hóa của thế giới đi qua Biển Đông, 2/3 lượng hàng hóa và dầu khí Trung Quốc nhập khẩu để duy trì nền kinh tế đều đi qua Biển Đông. Nếu thiếu dầu khí và hàng hóa 3 tháng thì kinh tế Trung Quốc khủng hoảng. Máy bay, tầu chiến Việt Nam cứ nện cho chìm vài chiếc tàu hàng Trung Quốc thì bố nó cũng không dám chạy qua nữa. Đó cũng là lý do, “Tướng Trung Quốc báo cáo lãnh đạo Trung Quốc là chiếm Trường Sa 1 tuần là được nhưng không giữ được. Lãnh đạo Trung Quốc nói, chiếm không giữ được thì chiếm làm gì”. Nếu nó đánh ta gãy 1 tay mà ta cứ ôm tay khóc là nó đánh ngay, nhưng nếu nó đánh ta gãy 1 tay mà ta lại đấm nó gẫy răng thì nó sẽ phải suy nghĩ lại. Gẫy răng thì sẽ không được đẹp trai lại còn phải húp cháo cả tuần. Nó sẽ phải cân nhắc.

Trả lời cho câu hỏi thứ ba:
KHẢ NĂNG THU HỒI CHỦ QUYỀN BIỂN ĐẢO ĐÃ BỊ CHIẾM?

Câu hỏi đặt ra là chúng ta thu hồi chủ quyền Hoàng Sa bằng vũ lực hay bằng cách nào?
Thực lực quân sự của ta không thể dùng vũ lực để thu hồi. Vậy chúng ta có thể dựa vào một nước lớn khác như Mỹ để dùng vũ lực được không? Chúng ta không thể dựa vào Mỹ, lịch sử Mỹ chỉ chuyên đi xé nhỏ các nước chứ chưa bao giờ giúp nước nào mở rộng lãnh thổ. Chúng ta cũng không quên Mỹ đã bắt tay Trung Quốc bán Hoàng Sa ngay trên lưng chúng ta. Mỹ cũng xui dại Ucraina tiêu hủy các chiến hạm hải quân, các máy bay và tên lửa chiến lược để nhận sự bảo kê của Mỹ. Kết quả, Nga thu hồi C-rưm, Mỹ giương mắt ếch lên nhìn, Mỹ chỉ to mồm xui dại trẻ con chứ Mỹ dại gì xung đột quân sự trực tiếp với Nga, chẳng có lợi ích kinh tế gì, ú ớ mà gấu Nga điên lên thì chỉ có vỡ mồm. Lượng vũ khí hạt nhân của Trung Quốc chỉ đứng sau Nga, 1 phần nhỏ phát nổ cũng đưa trái đất về kỷ băng hà. Mỹ đang sống sướng, tội gì phải chết.
Vậy thu hồi bằng cách nào?
Chỉ có 1 con đường là đấu tranh bằng pháp lý. Muốn đấu tranh thắng lợi phải biết đợi thời cơ để ra đòn quyết định. Quá trình chờ thời là quá trình ta xây dựng, chuẩn bị thế và lực chứ không phải đứng yên chờ thời. Giống như Cách mạng tháng Tám 1945, nếu nổ ra sớm, thời cơ chưa đến chúng ta sẽ thất bại. Philippines kiên Trung Quốc thắng lợi nhưng kết quả chẳng làm gì được Trung Quốc. Trung Quốc có thể vượt Mỹ nhưng thời điểm đó chắc chắn luật pháp quốc tế trong đó có Luật biển sẽ có hiệu lực mạnh hơn. Tiếng nói của các nước được tôn trọng hơn. Trong khi đó Trung Quốc cũng còn rất nhiều vấn đề phải giải quyết, Trung Quốc còn vấn đề dân tộc, vấn đề các khu tự trị, vấn đề Đài Loan... năm 1930-1931 chẳng ai biết được thời cơ Tổng khởi nghĩa sẽ đến vào năm 1945. Hiện nay chúng ta cũng không thể biết khi nào là thời cơ để chúng ta kiện Trung Quốc và ra đòn quyết định, có thể 5 năm, 10 năm hoặc lâu hơn nữa nhưng thời cơ nhất định tới, chỉ cần chúng ta đoàn kết và tự tin, giữ cho đất nước ổn định và phát triển thì thời cơ sẽ đến. Dùng cái đầu nóng, dùng bạo lực hay dựa hết vào ngoại bang giúp đỡ thì chẳng những không có cơ hội thu hồi mà có thể chúng ta còn mất cả những những đảo đang đứng chân.
NGUYỄN MẠNH TUÂN

Thứ Bảy, 15 tháng 6, 2019

TẠI SAO QUỐC HỘI KHÔNG CHẤP THUẬN TIẾNG ANH LÀ NGÔN NGỮ THỨ 2 CỦA VIỆT NAM?

Trước tiên, bạn phải hiểu rõ cụm từ “ngôn ngữ thứ 2” là gì thì mới hiểu được nguyên nhân và lý do tại sao Quốc hội lại không chấp thuận tiếng Anh là ngôn ngữ thứ hai. Bấy lâu nay nhiều người thường nhầm lẫn giữa “ngoại ngữ” và “ngôn ngữ thứ 2”. Chính xác tiếng Anh là ngoại ngữ cho người Việt Nam bởi vì nó được sử dụng để giảng dạy ở trường lớp như là một môn học và không bắt buộc bạn phải giỏi hay thông thạo tiếng Anh.

TẠI SAO QUỐC HỘI KHÔNG CHẤP THUẬN TIẾNG ANH LÀ NGÔN NGỮ THỨ 2 CỦA VIỆT NAM?
Kết quả biểu quyết thông qua Luật Giáo dục (sửa đổi) không có quy định về ngôn ngữ thứ 2.
Đất nước chúng ta có 54 dân tộc, mỗi dân tộc đều có một ngôn ngữ đặc sắc riêng và thậm chí tiếng Kinh (tiếng Việt) cũng chỉ là ngôn ngữ thứ hai của họ.
Trích Hiến pháp 2013 quy định: “Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình”“công dân có quyền xác định dân tộc của mình, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp” (các điều 5, 42), chưa quy định về ngôn ngữ thứ hai.

Ngôn ngữ thứ 2 được sử dụng như thế nào?

Ngôn ngữ thứ 2 là ngôn ngữ được sử dụng thường xuyên, liên tục trong đời sống, người nói sử dụng ngôn ngữ trong các tình huống giao tiếp tự nhiên, hàng ngày của đời sống.
Nó cũng sẽ được sử dụng tương tự như tiếng mẹ đẻ (tiếng Việt) trong giao tiếp hàng ngày.

Tạo sao không nên chọn tiếng Anh làm ngôn ngữ thứ 2?

Với việc chọn tiếng Anh để làm ngôn ngữ thứ 2 sẽ gây ra rất nhiều mặt tiêu cực.
Chúng ta biết rõ tâm lý của người Việt là “rất sính ngoại”, họ sẽ sẵn sàng lạm dụng tiếng Anh mọi lúc mọi nơi, gây khó chịu cho những người không biết tiếng Anh hoặc không giỏi tiếng Anh. Thậm chí, giá trị của tiếng mẹ đẻ có thể bị mất đi hoặc có thể sẽ bị ít sử dụng về sau.
Nếu chọn tiếng Anh làm ngôn ngữ thứ 2 thì tiếng Việt và tiếng Anh sẽ là hai ngôn ngữ chính của Việt Nam và người Việt sẽ bị bắt buộc phải học và thành thạo cả hai. Rất nhiều người cho đến thời điểm bây giờ không muốn phải học tiếng Anh, để họ có thể dành thời gian học những thứ tiếng khác như là tiếng Trung, Hàn và Nhật…

Chuyện gì sẽ xảy ra nếu chúng ta quyết định tiếng Anh là ngôn ngữ thứ 2?

Nếu ta quyết định tiếng Anh là ngôn ngữ thứ 2 thì nó sẽ được sử dụng phổ biến và thường xuyên như tiếng Việt. Các văn bản, giấy tờ hành chính đều sẽ “có thể” được sử dụng bằng tiếng Anh. Điều này sẽ gây khó khăn rất lớn cho những người chưa được tiếp xúc với tiếng Anh bao giờ.
Và nếu đề xuất tiếng Anh là ngôn ngữ thứ 2 ở Việt Nam thì 53 dân tộc còn lại “có thể” sẽ không phải học tiếng Việt, trong khi đây là ngôn ngữ Quốc gia được ghi ở Hiến pháp.

Không chấp thuận tiếng Anh thì đồng nghĩa là chúng ta phải học tiếng Trung?

Hoàn toàn sai, chúng ta không hề phải học tiếng Trung và tiếng Trung cũng sẽ không bao giờ được chấp thuận là ngôn ngữ thứ 2 của Việt Nam.
Ấy vậy mà có những kẻ thiếu hiểu biết đã giãy nảy lên để phản đối Quốc hội về việc “không chấp thuận tiếng Anh là ngôn ngữ thứ 2” và chúng bắt đầu bài ca “chỉ có tiếng Trung Quốc là sẽ được chấp nhận”.
Cái tâm lý của những kẻ “sợ Tàu”, cứ hễ thấy Việt Nam mình hợp tác với Trung Quốc về vấn đề gì đó là bắt đầu “gào thét” trên mạng rằng “Chính quyền Việt Nam bán nước cho Trung Quốc”, nào thì “nịnh bợ Trung Quốc”, bờ la bờ la… Vậy đầu óc chúng chỉ có suy nghĩ đến vậy là cùng thôi sao?
Theo chia sẻ của bản thân tôi, là một người biết tiếng Anh, có thể giao tiếp và sử dụng tiếng Anh trong đời sống hàng ngày, nhưng tôi vẫn sẽ chưa chấp nhận tiếng Anh là một ngôn ngữ thứ 2 bởi vì chúng ta không bắt buộc phải học nó hoàn toàn mặc dù nó là một ngôn ngữ quốc tế và đang trong xung hướng hội nhập quốc tế.
Việc lựa chọn tiếng Anh là ngôn ngữ thứ 2 thì nó sẽ ảnh hưởng rất lớn về sau và tiếng Việt có thể bị mất đi giá trị bản sắc. Vấn đề này sẽ cần phải có thêm thời gian để xem xét lại rất nhiều trước khi ra quyết định.
Qua đây, tôi có ba điều muốn nhắn nhủ:
- “Hãy dành thời gian cho những ngôn ngữ mà bạn thực sự muốn học và nó sẽ là cầu nối cho sự nghiệp tương lai của bạn”
- “Chúng ta hoà nhập chứ không hoà tan”
- “Bảo dân trí thấp lại tự ái”
Nguyễn Trọng Hiệp