ỦY BAN KIỂM TRA TRUNG ƯƠNG THI HÀNH KỶ LUẬT MỘT SỐ CÁN BỘ

Trong hai ngày 06 và 07/3/2019 tại Hà Nội, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã họp kỳ 34. Đồng chí Trần Cẩm Tú, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương chủ trì kỳ họp.

KHAI MẠC HỘI NGHỊ LẦN THỨ 9 BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG KHÓA XII

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước thông tin cho biết, qua rà soát, lựa chọn, Bộ Chính trị đã thống nhất giới thiệu để Trung ương cho ý kiến đối với hơn 200 đồng chí.

Thông cáo báo chí kỳ họp 32 của Ủy ban Kiểm tra Trung ương

Từ ngày 03 đến 06/12/2018 tại Hà Nội, Ủy ban kiểm tra Trung ương đã họp kỳ 32. Đồng chí Trần Cẩm Tú, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra Trung ương chủ trì kỳ họp.

UBKTTW kết luận vụ AVG: Sai phạm của ông Nguyễn Bắc Son, Trương Minh Tuấn là rất nghiêm trọng

UBKTTW vừa họp kỳ 26 kết luận vụ AVG có những vi phạm của Ban cán sự đảng Bộ TT-TT, ông Nguyễn Bắc Son, ông Trương Minh Tuấn, ông Phạm Đình Trọng, của Ban Thường vụ Đảng ủy Mobifone và các ông Lê Nam Trà, Cao Duy Hải là rất nghiêm trọng.

Bốn kỳ vọng thay đổi lớn về công tác cán bộ sau 4 ngày Hội nghị T.Ư 7

Sau 4 ngày làm việc, Hội nghị Trung ương 7 khóa XII đã thảo luận nhiều nội dung quan trọng được dư luận đặc biệt quan tâm, trong đó có công tác cán bộ, bởi đây là vấn đề “nóng” trong tình hình hiện nay.

Thứ Bảy, 20 tháng 4, 2019

XỬ LÝ NGHIÊM SAI PHẠM, TRẢ LẠI SỰ TRONG SẠCH CHO MÔI TRƯỜNG GIÁO DỤC

Vụ việc gian lận trong kỳ thi THPT Quốc gia tại các địa phương như Hà Giang, Sơn La, Hòa Bình trong những ngày qua lại đang nóng lên trên các mặt báo cũng như mạng xã hội.

XỬ LÝ NGHIÊM SAI PHẠM, TRẢ LẠI SỰ TRONG SẠCH CHO MÔI TRƯỜNG GIÁO DỤC

Điều đặc biệt khiến dư luận bức xúc là sau khi danh sách những thí sinh được nâng điểm được công khai, trong số đó có trường hợp kỷ lục được nâng khống tới 26,5 điểm để trở thành thủ khoa của Trường Sĩ quan lục quân, trong khi điểm thực chất của thí sinh này chỉ vỏn vẹn 1 điểm cả ba môn.
Đến thời điểm hiện tại, cơ quan chức năng đã xác định có 222 thí sinh bị phát hiện gian lận điểm trong kỳ thi vừa qua, trong đó  có 114 thí sinh tỉnh Hà Giang, 64 thí sinh tỉnh Sơn La và 44 thí sinh tỉnh Hòa Bình. Bằng việc sửa điểm, nhiều trong số những thí sinh đó đã trở thành thủ khoa, á khoa và lọt vào top đầu tại một số trường đại học danh giá.
Sự chiếm chỗ của những trường hợp gian lận này cũng đồng thời tước đoạt đi cơ hội của ngần ấy thí sinh đủ năng lực, thậm chí có cả những nhân tài khắp các địa phương trong cả nước trong kỳ thi THPT Quốc gia năm 2018.
Cho đến thời điểm hiện tại, việc xử lý đối với những trường hợp thí sinh được phát hiện gian lận điểm trúng tuyển vào các trường đại học vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau.
Thậm chí tại một số trường thí sinh được nâng điểm vẫn đang theo học do xác định số điểm thực chất sau khi chấm thẩm định vẫn đủ điểm trúng tuyển hoặc thí sinh đã sử dụng tổ hợp điểm những môn khác để xét tuyển.
Nhiều ý kiến cho rằng giáo dục là sự nghiệp trồng người, đào tạo thế hệ nhân tài cho đất nước phải đảm bảo cả tài và đức, liệu chúng ta có chấp nhận những chủ nhân tương lai của đất nước đã có hành vi gian lận ngay từ khi ngồi trên ghế giảng đường đại học.
Cho đến thời điểm này, lực lượng Công an đã khởi tố 3 vụ án về tội danh lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ, khởi tố, bắt giam nhiều cá nhân có liên quan đến quá trình tham gia chấm thi, quản lý bài thi, đề thi tại các địa phương Hà Giang, Hòa Bình và Sơn La.
Vụ việc vẫn đang được tiếp tục điều tra làm rõ để xử lý nghiêm khắc trên tinh thần kiên quyết, khách quan và triệt để. Đối với các trường hợp thí sinh dự tuyển vào các trường CAND, trả lời phóng viên Lãnh đạo Cục Đào tạo - Bộ Công an đã cho biết: Đã trả 53 thí sinh gian lận điểm tại hai địa phương Sơn La và Hòa Bình trúng tuyển vào các trường CAND về địa phương để xử lý theo quy định.
Nguyên tắc xử lý của Bộ Công an là tất cả các học viên có điểm thi gian lận đều bị thu hồi kết quả trúng tuyển và xử lý nghiêm bất kể điểm thực chất sau khi trừ điểm nâng có đạt điểm chuẩn vào các trường CAND hay không.
Đồng thời để ngăn chặn và hạn chế tình trạng gian lận trong thi cử, hiện Bộ Công an cũng đang nghiên cứu xây dựng đề án đổi mới tuyển sinh vào các trường CAND.
Mục tiêu của đề án này là sẽ đưa ra các quy định mang tính đặc thù nhằm tuyển chọn được những người có năng lực, năng khiếu đáp ứng các tiêu chuẩn quy định cũng như hạn chế tình trạng gian lận khi thi tuyển vào các trường CAND.
Câu hỏi mà dư luận đang hết sức quan tâm là các cơ quan chức năng xử lý như thế nào đối với những thí sinh sai phạm và cả những người có liên quan, trong đó có phụ huynh của những thí sinh đã được nâng điểm.
Rõ ràng là những hệ lụy tiêu cực liên quan đến gian lận trong kỳ thi PTTH Quốc gia năm 2018 vừa qua để lại những hậu quả rất nặng nề. Những sai phạm đó đã làm ảnh hưởng đến một kỳ thi công bằng và nghiêm túc về sự trong sạch cần phải có của môi trường giáo dục.
Chỉ bằng cách xử lý một cách toàn diện, kịp thời và nghiêm khắc tất cả những sai phạm mới có thể lấy lại được lòng tin trong xã hội đặc biệt đối với các học sinh và phụ huynh khi một mùa thi mới sắp đến gần./.
Yên Trung

Thứ Sáu, 19 tháng 4, 2019

ĐỪNG LẦM TƯỞNG ĐỂ TỰ PHÁ HOẠI BÌNH YÊN CỦA CHÍNH MÌNH

Trong chiến lược “diễn biến hòa bình”, chiêu thức thường được các thế lực thù địch tận dụng tối đa nhằm làm sụp đổ một quốc gia là tìm cách bôi nhọ chế độ xã hội hiện tại, thổi phồng những mặt trái của xã hội đó để gây tâm lý bất mãn rồi kích động sự phản kháng trong xã hội.

 Những vụ việc cụ thể, có tính cá biệt, những sai phạm của cá nhân, thường được nâng lên thành bản chất của chế độ xã hội. Đáng tiếc là vẫn có không ít người nhẹ dạ, thiếu thông tin, thiếu tầm nhìn, không tự phát hiện được sự thật đằng sau những luận điệu kích động đó, họ vô tình tự cướp đi bình yên của chính mình.

Ngộ nhận và bất mãn dễ bị kẻ xấu lợi dụng

Trong xã hội hiện nay, chúng ta không khó để nhận ra có những người rất hay than trách cuộc sống, nghi ngờ mọi thứ xung quanh, cho rằng mọi thứ đều xấu xa, tự cảm thấy mình chịu nhiều bất công, từ đó oán trách chế độ xã hội. Họ nhìn xã hội qua lăng kính màu đen nên mọi thứ xung quanh đều trở nên đen tối. Khi kinh tế phát triển họ nói rằng phát triển không thực chất, phải đánh đổi môi trường, lợi ích vào túi một số ít người. Khi một số cán bộ, đảng viên bị kỷ luật, một số vụ tham nhũng bị phát giác, xử lý nghiêm theo pháp luật, thì họ cho rằng như thế là chưa đủ, mà thậm chí phải "đập chế độ này đi xây lại vì cả hệ thống tham nhũng". Khi một vài trường học xảy ra bạo lực học đường, thì họ kết luận cả nền giáo dục là bỏ đi. Thậm chí khi bóng đá Việt Nam giành được nhiều thành tích, nhiều chiến thắng vinh quanh ở tầm châu lục và vươn lên đứng đầu khu vực Đông Nam Á, họ cũng cho rằng đó là may mắn, rồi chỉ là thành tích của một lứa cầu thủ, một huấn luyện viên, còn cả nền bóng đá vẫn tồi tệ...

ĐỪNG LẦM TƯỞNG ĐỂ TỰ PHÁ HOẠI BÌNH YÊN CỦA CHÍNH MÌNH
Cơ sở hạ tầng phát triển, chất lượng sống của người dân ngày càng được nâng lên.
Thực tế trong bất cứ xã hội nào cũng tồn tại những người bi quan và bất mãn. Điều này là kết quả, là ảnh hưởng từ xuất phát điểm của mỗi người; từ quá trình giáo dục, từ những kết quả công việc và cuộc sống cho đến cách tiếp nhận, phân tích thông tin của mỗi người và quan trọng là cách tự xác định tâm thế, vị trí của mỗi người đối với cuộc sống. Chúng ta có thể gặp không ít người có đời sống vật chất đủ đầy, có nhà lầu, xe hơi... nhưng vẫn bất mãn với cuộc sống, vẫn thấy nhiều người hơn mình, vẫn thấy mình thiệt thòi. Từ những bất mãn so bì đó, thay vì nỗ lực để mang lại cuộc sống tốt đẹp hơn nữa cho bản thân như mong muốn, thì họ lại quay ra oán trách, thậm chí chửi bới, bôi nhọ chế độ xã hội.
Những lúc bình thường thì tâm thế của kiểu người nêu trên gây tiêu cực cho chính bản thân họ và xã hội. Nhưng khi mà cuộc đấu tranh tư tưởng, đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” diễn ra rất quyết liệt, có nhiều sắc thái mới thì việc tồn tại trong xã hội kiểu người nói trên sẽ là cơ hội để các thế lực thù địch hướng tới, lôi kéo, nhằm đạt được mục đích là gây bất ổn xã hội, thậm chí gây rối loạn xã hội, tiến tới lật đổ chế độ.
Để nói về điều này, cần phải nhìn lại giai đoạn vừa qua của lịch sử thế giới đã chứng kiến những kết cục đau lòng từ sự ngộ nhận, lầm tưởng của một lớp người trong xã hội. Năm 2011, các cuộc biểu tình có cái tên rất mỹ miều là “Mùa xuân Ả Rập” đồng loạt nổ ra tại một số quốc gia Bắc Phi, Trung Đông, như: Tunisia, Algerie, Ai Cập, Yemen, Libya, Iraq, Syria... Các cuộc biểu tình này đã dẫn tới bạo động chống chính phủ, lan nhanh như một bệnh dịch khiến chính phủ ở một loạt nước như Ai Cập, Libya, Tunisia, Yemen bị lật đổ, xã hội hỗn loạn... Các nước Syria, Yemen chìm trong nội chiến. Theo ước tính đến năm 2016, “Mùa xuân Ả Rập” và các cuộc nội chiến từ hậu quả của nó đã làm Syria, Lybia, Iraq bị tàn phá, khoảng 500.000 người chết, hàng chục triệu người bị mất nhà cửa, phải chạy tị nạn sang các quốc gia khác.
Nguyên nhân dẫn tới biểu tình và bạo động là những vấn đề xã hội đã tồn tại trong các quốc gia nêu trên chậm được cải thiện, những vấn đề tư tưởng, những ấm ức, bất mãn, tâm lý bị thiệt thòi của một bộ phận người dân không sớm được giải tỏa và tìm biện pháp khắc phục. Cùng với đó là sự can dự, giật dây của các nước phương Tây, tiếp sức bằng tiền và vũ khí cho các nhóm chống đối, kích động, lôi kéo người dân xuống đường biểu tình. Đó là vì các nước phương Tây muốn thay đổi các chế độ trái mắt họ, vì lợi ích của họ. Kết quả của “Mùa xuân Ả Rập” là một thứ mùa xuân chết chóc, hỗn loạn, tan vỡ, ly tán, vợ mất chồng, cha mất con, người dân mất nhà cửa, đất nước tan hoang. Những nhà lãnh đạo bị phương Tây gọi là những “nhà độc tài” đã bị lật đổ, để rồi thay thế vào đó là nhiều nhóm quyền lực mới nổi lên bắn giết nhau, bất chấp mạng sống của người dân để giành quyền lực. Nhiều người dân Ả rập đã hối tiếc, muốn mọi thứ trở lại giai đoạn “tiền Mùa xuân Ả Rập”.
Nhìn người để nghĩ tới ta. Đất nước Việt Nam hiện được đánh giá nằm ở nhóm quốc gia có tốc độ phát triển nhanh hàng đầu thế giới. Chúng ta có thể cảm nhận thấy rõ đời sống của người dân đang đi lên theo thời gian. Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB) năm 2018, 70% người dân Việt Nam đã được bảo đảm về mặt kinh tế, trong đó 13% thuộc tầng lớp trung lưu theo chuẩn thế giới. Tính từ năm 2014 tới nay, trung bình mỗi năm có 1,5 triệu người Việt Nam gia nhập vào tầng lớp trung lưu toàn cầu, cho thấy các hộ gia đình đang tiếp tục leo lên bậc thang kinh tế cao hơn sau khi thoát nghèo. Tất cả vấn đề xã hội, vấn đề về môi trường, phát triển bền vững đều được Đảng, Nhà nước quan tâm. Công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên được đặc biệt quan tâm và thực hiện thực chất, quyết liệt. Thế nhưng tất cả những thực tế rõ ràng đó, những con người có con mắt thiếu khách quan vẫn cố tình không thừa nhận.

Liệu có một xã hội hoàn hảo hay không?

Để nhận thấy sự quan tâm của Nhà nước Việt Nam đối với các vấn đề trong xã hội, có thể nhìn sang quốc gia hùng mạnh nhất thế giới là nước Mỹ. Năm 2004, siêu bão Charley quét từ vịnh Mexico qua Florida đến Đại Tây Dương, tàn phá một số vùng của nước Mỹ, làm 22 người chết và thiệt hại 11 tỷ USD. Điều đáng nói, sau cơn bão này, người dân Mỹ mới nhận ra những điều bất ổn trong xã hội mình. Đó là nhân việc bão quét sạch mọi thứ, nhiều doanh nghiệp đã nâng giá bán với mức cắt cổ để kiếm lợi. Máy phát điện từ 250 USD tăng lên 2.000 USD; nước đá từ 2 USD được nâng lên 10 USD; một gia đình muốn dọn hai cây đổ vào nóc nhà thì phải trả giá là 23.000 USD (khoảng 530 triệu VNĐ). Đỉnh điểm là câu chuyện một cụ bà 70 tuổi chạy bão với người chồng và cô con gái khuyết tật đã phải trả 160 USD (khoảng 3,7 triệu VNĐ) một đêm cho buồng trọ giá bình thường chỉ 40 USD. Tờ USA Today khi đó đã bức xúc chạy dòng tít: “Kền kền sau bão” để phê phán thực trạng lợi dụng thảm họa, lợi dụng sự khổ đau của người khác để ép giá cắt cổ. Thế nhưng, điều đáng nói hơn là một số nhà kinh tế tại Mỹ lại phản đối tờ USA Today và cho rằng việc tăng giá như thế là bình thường, vì trong một nền kinh tế thị trường có quy luật cung cầu, cầu tăng mà nguồn cung giảm thì ắt giá sẽ tăng, chứ không có khái niệm “giá cắt cổ”.
Nhìn vào sự việc trên để thấy sự khác biệt ở Việt Nam. Khi xảy ra những trận thiên tai, bão lũ, thảm họa ở bất kỳ khu vực nào thì cả nước đều quan tâm, theo dõi, lo lắng rồi chung tay, quyên góp cùng địa phương đó kịp thời khắc phục hậu quả, giúp người dân ổn định cuộc sống. Các lực lượng chức năng, trong đó quân đội là lực lượng nòng cốt, được huy động để giúp đỡ người dân khẩn trương thu hoạch mùa màng, dựng lại nhà cửa, dọn dẹp vườn ruộng, đường xá, trường học, bệnh viện sau bão. Các hoạt động ấy vừa là nhiệm vụ được cấp trên giao phó nhưng cũng xuất phát từ trái tim. Bởi dân tộc Việt Nam, xã hội Việt Nam là một xã hội hướng thiện, yêu thương đùm bọc nhau đã là truyền thống từ xưa tới nay: “Lá lành đùm lá rách”, “Một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ”... Khi nền kinh tế phát triển thường sẽ kéo theo những sự phát triển không đồng đều vì đặc điểm địa lý, lợi thế của mỗi vùng miền, rồi khả năng của mỗi con người cũng khác nhau. Nhận thấy nguy cơ này, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm để thiết kế các chế độ, chính sách thúc đẩy sự phát triển của vùng sâu, vùng xa, giúp đỡ người nghèo vươn lên theo phương châm “không để ai bị bỏ lại phía sau”.
Ở một xã hội phát triển như Nhật Bản, được coi là hình mẫu của nhiều quốc gia, thế mà trong nhiều tác phẩm của mình, ông Inamori Kazuo, một doanh nhân, một nhà giáo dục nổi tiếng của Nhật Bản vẫn nhiều lần phê phán, tỏ ý thất vọng vì xã hội và con người Nhật Bản hiện nay đang bị thoái hóa về đạo đức, một xã hội dần trở nên bị lũng đoạn bởi nhiều thói xấu như tham nhũng, ích kỷ, thiếu tử tế... Do đó có thể thấy, ở bất cứ một quốc gia nào, một chế độ nào cũng không bao giờ có sự hoàn hảo. Tất cả quốc gia, dân tộc, cơ quan, tổ chức, cá nhân đều mãi mãi chỉ trên con đường để vươn tới sự hoàn hảo. Và muốn vươn tới tiệm cận sự hoàn hảo đó thì chúng ta cần phải có cái nhìn đúng đắn, khách quan về mọi thứ xung quanh mình. Thay vì oán trách tại sao ai đó không làm điều tốt cho mình, tại sao mình không được hưởng những điều tốt đẹp hơn thì nên tự nỗ lực hơn nữa trong công việc và cuộc sống.
Đất nước Việt Nam đang trên con đường phát triển, do đó còn nhiều vấn đề đặt ra, còn những mặt trái trong xã hội. Vì vậy, muốn đất nước phát triển thì mọi người cần bình tĩnh, tỉnh táo để nhìn nhận đúng mọi vấn đề xung quanh mình, nỗ lực đóng góp sức mình dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước. Đừng vì những mặt trái hiện có trong xã hội mà thất vọng, chán nản, để rồi dễ bị lợi dụng, bị kích động, tự mình phá hoại sự ổn định của đất nước mình, sự bình yên, hạnh phúc của bản thân mình.
HỒ QUANG PHƯƠNG

Thứ Hai, 15 tháng 4, 2019

BIỆT ĐỘNG SÀI GÒN: TRẬN ĐÁNH KHÁCH SẠN MAJESTIC CỦA 4 CÔ GÁI CẢM TỬ.

Quang cảnh sang trọng của khách sạn Cửu Long ở đầu đường Đồng Khởi ngày nay chính là phiên bản của rạp xinê Majestic cách đây hơn nửa thế kỷ, nơi đã ghi lại chiến công vang dội của 4 cô gái cảm tử Sài Gòn thuộc trung đội Minh Khai, Quyết tử quân Sài Gòn - Chợ Lớn. Trong trận tập kích vô cùng táo bạo tại đây ngày 10/6/1948, 50 sĩ quan Pháp chết và bị thương trong đó có 2 quan năm và tên mật thám Albert.

BIỆT ĐỘNG SÀI GÒN: TRẬN ĐÁNH KHÁCH SẠN MAJESTIC CỦA 4 CÔ GÁI CẢM TỬ.
Nữ cảm tử quân Nguyễn Thị Kim Dung thời trẻ.
Thời đó, rạp chiếu bóng này sang trọng vào bậc nhất Sài Gòn, có máy điều hòa nhiệt độ và được canh gác rất nghiêm ngặt bởi rạp chủ yếu dành cho sĩ quan và thủy binh Pháp. Bọn này là đối tượng tác chiến số một của biệt động thành vì diệt “sinh lực cao cấp” của thực dân Pháp ngay tại nội thành Sài Gòn sẽ làm rung động quân địch và cổ vũ tinh thần chiến đấu của quân dân ta.
Nhiệm vụ quan trọng đó, Ban công tác thành giao cho trung đội Minh Khai thực hiện, trực tiếp là 4 chiến sĩ: Bùi Thị Huệ, Hoàng Thị Thanh, Nguyễn Thị Kim Dung, Mạc Thị Lan (Huệ nhỏ). Trong số này Huệ lớn tuổi nhất (27 tuổi), Dung nhỏ nhất (15 tuổi). Cách thức tấn công: dùng lựu đạn đánh trực tiếp.
Được cơ sở mật báo tối thứ 5 (10/6/1948) rạp Majestic chiếu phim “Vĩnh biệt người yêu” cho bọn Pháp coi, trung đội Minh Khai quyết định hành động theo kế hoạch đã được cấp trên chấp nhận.
Vé đã mua sẵn, chính trị viên (Huệ lớn) bí mật trao cho các chiến đấu viên tại một tiệm may đường Võ Thị Sáu. Tới giờ, bốn chị y trang lộng lẫy, thơm ngát nước hoa, ngồi trên xe tay từ các hướng tới Majestic “xem phim”. Huệ “nhỏ” không trực tiếp đánh chỉ làm nhiệm vụ cảnh giới. Cô dắt theo một bé trai 10 tuổi để đánh lạc sự chú ý của lính gác.
Bốn cô gái lịch lãm lần lượt vào rạp, không quên mời lính ăn kẹo và mở bóp đầm cho chúng kiểm tra. Chúng có biết đâu những quả lựu đạn bé xíu nằm ngay ở dưới đáy bóp mà các nữ chiến sĩ đã khéo léo nắm chặt khi nâng lên ngay mặt chúng kèm theo nụ cười tình tứ xã giao. Dung và Huệ đi bên phải, Lan và Thanh đi bên trái ung dung vào đúng chỗ ngồi ghi trên vé. Những hàng ghế hạng sang phía sau, các sĩ quan và thủy binh Pháp đã yên vị. Ba cô lấy lựu đạn sẵn sàng rút chốt.
Đèn tắt, cuốn phim phụ trình chiếu trên màn ảnh vừa ngừng, không gian mờ tối. Đã tới giờ qui định, khi màn ảnh vừa chuyển sang phim chính, Kim Dung tung ngay quả lựu đạn vào quân Pháp ở phía sau. Tiếng nổ kinh hoàng chưa dứt thì tiếp liền hai quả của Thanh và Lan là rạp phim rung lên. Trong màn khói mù mịt và tiếng kêu la náo lọan, các cô gái lấy khăn tẩm sẵn nước hoa lau tay rồi chùi lên tóc xóa ngay mùi tanh của gang lựu đạn rồi nhập vào đám người đang hỗn loạn.
Nhân lúc lộn xộn, Thanh làm bộ sợ hãi bám vào một phụ nữ thoát ra ngoài và gọi xích lô về nhà. Huệ nhỏ bị miếng lựu đạn trúng gần mắt cá chân giả vờ kêu khóc và lôi em bé ra khỏi rạp, bọn cảnh sát không nghi ngờ gì. Kim Dung ra đến sát cửa thì cánh cửa sắt phía ngoài đóng chặt lại, Huệ cũng bị kẹt trong rạp. Cảnh sát được huy động đến bao vây chặt và mở cuộc điều tra tại chỗ. Trước lúc đi chiến đấu, các cô đã giao ước với nhau là sau khi vụ nổ xảy ra thì không ai được nhìn nhau.
Sau khi xe cứu thương chở hết những người bị thương vong vào các bệnh viện Grall (nay là Nhi đồng 2), Chợ Rẫy, địch buộc mọi người ngồi đúng vào chỗ của mình trên vé và bắt đầu xét hỏi từng người. Kim Dung nhanh trí lượm được một chiếc vé đổi ngay chỗ ngồi phía sau chỗ quả lựu đạn nổ. Chúng xét hỏi vài câu không thấy gì nghi vấn nên cho cô ra về. Huệ ngay thật ngồi lại chỗ cũ bị bắt tại trận cùng mấy người bị tình nghi đưa về bót Catinat.
Do có kẻ khai báo (có thể người chở xích lô đưa Thanh về nhà hôm đó là mật thám), ít lâu sau, số chị em trong đội nữ Minh Khai lần lượt bị địch “bắt nguội”. Qua nhiều lần tra tấn cực hình tại bót Catinat, các cô vẫn giữ được khí tiết. Chúng giải các cô sang Khám Lớn - Sài Gòn để chờ ngày đưa ra tòa xét xử.
Sau nhiều lần lấy cung, tháng 6/1949 địch đưa vụ Majestic ra xử và kết án:
* Bùi Thị Huệ - tử hình.
* Nguyễn Thị Đào 20 năm tù khổ sai (Đào không đánh trận này nhưng Thanh còn có tên là Đào nên chúng bắt nhầm).
* Nguyễn Thị Kim Dung 10 năm tù khổ sai.
Các can phạm đều chống án, địch cũng chống án vì cho xử như thế là quá nhẹ đối với các phần tử Việt Minh vô cùng nguy hiểm đã gây thiệt hại trầm trọng cho quân đội Pháp quốc.
Ở Sài Gòn dậy lên một làn sóng phản đối Tòa án Pháp xử ba phụ nữ Việt Nam quá nặng, trong đó Kim Dung còn tuổi vị thành niên. Ủy ban kháng chiến hành chánh Sài Gòn - Chợ Lớn và Trung tướng Nguyễn Bình gửi lời khen ngợi và tuyên dương công trạng Trung đội Minh Khai.
Sau một năm biệt giam trong Khám Lớn, ba cô được giảm án, nghĩa là không có ai bị án tử hình.

BIỆT ĐỘNG SÀI GÒN: TRẬN ĐÁNH KHÁCH SẠN MAJESTIC CỦA 4 CÔ GÁI CẢM TỬ.
Dù có tuổi, nhưng bà Dung vẫn giữ được nhan sắc một thời.
Trận đánh làm nức lòng người dân Sài Gòn yêu nước và gây chấn động mạnh trong quân Pháp. Và dư vang của nó còn đi qua nhiều thế hệ. Bốn cô gái cảm tử năm xưa, người trở về đời thường, người trở thành giảng viên đại học Kim (cô Kim Dung), người trở thành dược sĩ cao cấp (cô Thanh)... Nay các cô đã về hưu và trở thành bà nội, bà ngọai nhưng trận Majestic vẫn ngời lên trong tâm tưởng như một dấu son lịch sử kháng chiến của Sài Gòn - Chợ Lớn anh hùng!
Thu Lê

Chủ Nhật, 14 tháng 4, 2019

HƯỚNG VỀ NGUỒN CỘI, QUY TỤ SỨC MẠNH ĐOÀN KẾT

“Dù ai đi ngược, về xuôi/ Nhớ ngày Giỗ Tổ mồng Mười, tháng Ba”. Giỗ Tổ Hùng Vương là ngày Quốc lễ ở Việt Nam. Từ bao đời nay, ngày Giỗ Tổ trở thành nét đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc, của mọi người con đất Việt hướng về tổ tông, nguồn cội, tưởng nhớ và tri ân công đức tổ tiên.

HƯỚNG VỀ NGUỒN CỘI, QUY TỤ SỨC MẠNH ĐOÀN KẾT
Khu di tích lịch sử Đền Hùng.
Hằng năm, cứ vào dịp mồng Mười tháng Ba, con Rồng cháu Tiên từ khắp mọi miền đất nước và từ nhiều nước trên thế giới lại hướng về đất Tổ - Khu di tích lịch sử Đền Hùng (Phú Thọ) và nhiều địa điểm linh thiêng ở các tỉnh, thành phố để dâng hương kính lễ tổ tiên, tưởng nhớ công ơn của các Vua Hùng.
Hạnh phúc của một dân tộc không thể thiếu cội nguồn, giang sơn và hòa bình. Chúng ta thật tự hào có cội nguồn bền vững. Sáng tỏa mấy nghìn năm nay hình tượng Cha Lạc Long Quân, Mẹ Âu Cơ cùng 18 đời Vua Hùng luôn khắc sâu trong tâm khảm người dân. Chúng ta có giang sơn hùng vĩ, núi non trùng điệp, ruộng đồng, biển rộng bao la... do ông cha để lại. Và, sau nhiều cuộc xâm lăng của các thế lực ngoại bang, đất nước ta đã có hòa bình. Những gì có được hôm nay là vô giá, tính từ mỗi tấc đất, thước biển, mỗi ngày bình yên, từng công trình dựng lên trên mảnh đất còn không ít dấu tích chiến tranh. Bỗng nhớ biết bao lời Bác Hồ căn dặn: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước. Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.
Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương, người người hành hương về nguồn cội - Khu di tích lịch sử Đền Hùng (Phú Thọ) và nhiều địa điểm thờ cúng, tưởng niệm các Vua Hùng ở các địa phương. Là con dân đất Việt, ai cũng nhớ ngày Giỗ Tổ và luôn mang trong mình truyền thống, đạo lý “uống nước nhớ nguồn” được truyền từ đời này qua đời khác. Không chỉ ở trong nước, Giỗ Tổ Hùng Vương còn được tổ chức trong cộng đồng người Việt ở nhiều nước trên thế giới.
 Giỗ Tổ Hùng Vương hội tụ nhiều giá trị về lịch sử, văn hóa đất nước, đặc biệt là sự kết nối, hội tụ, đoàn kết và hòa hợp dân tộc với tinh thần “Nhiễu điều phủ lấy giá gương/ Người trong một nước phải thương nhau cùng”. Nghĩa đồng bào thật cao cả! Chúng ta, dù ở đâu, làm gì cũng đều là con Lạc, cháu Hồng. Các Vua Hùng là điểm tựa tinh thần bất tử của dân tộc đã mấy nghìn năm. Hướng về cội nguồn là hướng về đất nước, cùng chung khát vọng, chung sức đồng lòng, đoàn kết toàn dân tộc để dựng xây giang sơn gấm vóc ngày càng đàng hoàng hơn, to đẹp hơn.
Lời non sông vang vọng, lan tỏa từ đất Tổ linh thiêng. Núi Nghĩa Lĩnh không cao, nhưng muôn đời là biểu tượng của sự quy tụ, đoàn kết dân tộc. Mỗi người dân đến đây, hoặc chưa có dịp về đây, đều thành kính thắp nén hương thơm cùng bánh chưng, bánh giầy dâng lên Quốc Tổ Lạc Long Quân, Quốc mẫu Âu Cơ và các Vua Hùng, với lòng thành kính, biết ơn, lòng yêu nước, thương nòi; nghĩ và làm những điều tốt đẹp cho đất nước, cho dân tộc. Hận thù, ngăn cách, chia rẽ không bao giờ là mong muốn của tổ tông. Hòa hợp, đoàn kết muôn người mới là điều cao cả. “Thương người như thể thương thân”, đó là minh triết sống, là truyền thống, nét đẹp văn hóa của dân tộc có từ lâu, từ thuở dân đi cấy, vua đi cày, từ thời những cánh chim Lạc bay qua các thửa Lạc điền dưới chân đồi bát úp. Xưa xa, nhưng cũng rất gần!
Cần tiếp tục làm tốt việc giáo dục, hun đúc, phát huy giá trị truyền thống lịch sử, lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, tự tôn dân tộc, nhất là với thế hệ trẻ, tạo sức lan tỏa hơn nữa của Giỗ Tổ Hùng Vương - ngày lễ trọng đại của dân tộc, ngày Quốc lễ của Việt Nam. Công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, hành trình hướng tới tương lai tươi sáng luôn đồng hành với sự quy tụ, đoàn kết dân tộc vững bền. Đó cũng chính là tinh thần bất diệt của Giỗ Tổ Hùng Vương./.
NGUYỄN HỮU QUÝ

HIỂU THỜI ĐẠI DỰNG NƯỚC ĐỂ Ý THỨC VỀ VIỆC GIỮ NƯỚC


Cứ mỗi dịp Lễ giỗ Tổ Hùng Vương 10/3 âm lịch hằng năm, mỗi người dân Việt Nam lại nhớ về thời đại khai sinh lập quốc, ghi nhớ công ơn dựng nước và giữ nước của ông cha, tiên tổ…

HIỂU THỜI ĐẠI DỰNG NƯỚC ĐỂ Ý THỨC VỀ VIỆC GIỮ NƯỚC
GS.TS. NGND Nguyễn Quang Ngọc, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam.

Chúng tôi đã có cuộc trao đổi với GS.TS. NGND Nguyễn Quang Ngọc, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam xung quanh thời đại Hùng Vương và việc bảo tồn, phát huy giá trị lịch sử của dân tộc. 

PV: Thưa Giáo sư, dưới góc độ nhà nghiên cứu lịch sử Việt Nam, xin Giáo sư cho biết truyền thuyết về Hùng Vương được hiểu như thế nào?

GS. TS Nguyễn Quang Ngọc: Câu chuyện Hùng Vương là vấn đề rất lớn, rất căn bản của lịch sử Việt Nam. Trước đây nhiều người vẫn tin Hùng Vương dựng nước chỉ thuần túy là một truyền thuyết, một huyền thoại, mà không hiểu được cái lõi lịch sử của nó…
Nhưng thực ra cũng từ rất sớm tổ tiên chúng ta đã bước đầu giải mã huyền thoại này và đưa thời đại Hùng Vương vào trong các bộ sử chính thức đầu tiên. Bằng chứng là sách “Việt sử lược” đời Trần đã dành một mục để nói về thời đại Hùng Vương, An Dương Vương.
Đặc biệt, sang thế kỷ XV, khi làm bộ “Đại Việt sử ký toàn thư” thì Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê đã chính thức đưa thời kỳ Hùng Vương dựng nước vào trong bộ Quốc sử đời Lê. Các nhà chép sử đời sau càng ngày càng làm sáng rõ hơn vị trí và ý nghĩa của thời đại dựng nước đầu tiên, đến đầu thế kỷ XX, Phan Bội Châu còn xác định hết sức rõ ràng rằng Hùng Vương là Thủy tổ dựng nước rồi tiếp đến Ngô Quyền là Tổ Trung hưng đất nước…
Tuy nhiên, những tiến bộ trong nhận thức này vẫn chủ yếu trên cơ sở phân tích, đánh giá các nguồn tư liệu thư tịch, mà tư liệu thư tịch thì xuất hiện muộn hơn thời đại Hùng Vương dựng nước nhiều, nên người đọc sử vẫn có quyền hoài nghi độ xác thực của nó.
Phải đến cuối những năm 1960 (1968-1970), dưới sự chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ Phạm Văn Đồng, một chương trình khoa học liên ngành quốc gia nghiên cứu về thời đại Hùng Vương dựng nước ra đời do GS Viện sĩ Phạm Huy Thông chủ trì, với sự tham gia của các nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực chuyên môn khác nhau ở cả trong nước và quốc tế.
Các nhà khoa học tập trung nghiên cứu về nhiều lĩnh vực như lịch sử cổ đại, địa lý lịch sử, dân tộc học, ngôn ngữ học lịch sử, cổ nhân học, địa chất học, sinh vật học… trong đó lấy khảo cổ học thời đại kim khí (đồ đồng, đồ sắt) làm trung tâm cốt lõi. Kết hợp tất cả các nguồn tư liệu (di tích, di vật, thư tịch cổ, truyền thuyết, phong tục thờ cúng, văn hóa dân gian, phương ngữ, địa danh… ở các địa phương), chúng ta đã giải mã, tìm ra được sự hợp lý và thống nhất của tất cả các nguồn tư liệu, làm cơ sở chứng minh một cách thuyết phục thời đại Hùng Vương dựng nước là thời đại có thật trong lịch sử Việt Nam, nó nằm trong khung niên đại của văn hóa Đông Sơn.
Hay nói một cách khác là quá trình hình thành nhà nước Văn Lang thời Hùng Vương nằm gọn trong giai đoạn Văn hóa Đông Sơn, thuộc sơ kỳ thời đại đồ sắt trên đất Việt Nam.
Từ đấy trở đi, Việt Nam càng ngày càng đẩy mạnh hơn việc nghiên cứu về thời đại Hùng Vương. Đặc biệt việc nghiên cứu này đã tranh thủ được sự ủng hộ của các chuyên gia quốc tế và nhất là sự hỗ trợ của khoa học công nghệ hiện đại nên đã chứng minh được một cách rõ ràng, đầy đủ và hoàn toàn thuyết phục về một thời đại dựng nước đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà không ai có thể phủ định được.

PV: Chúng ta vẫn thường nghe về “lịch sử 4.000 năm dựng nước”. Vậy thời đại Hùng Vương có phải cũng nằm trong giai đoạn đầu tiên đó không, thưa giáo sư?

GS.TS Nguyễn Quang Ngọc: Cần phải nói rằng, trong dân gian hay cả trong giới nghiên cứu cũng có các quan niệm về thời điểm khởi đầu của lịch sử đất nước không thật giống nhau.
Theo quan niệm thông thường là từ khi có con người xuất hiện trên phạm vi lãnh thổ đất nước hiện nay là đất nước có sử từ thời điểm đó; còn một quan niệm chính thức của giới nghiên cứu thì chỉ khi nhà nước sơ khai đầu tiên xuất hiện thì coi đó là thời điểm mở đầu của lịch sử đất nước (với tư cách là lịch sử của quốc gia dân tộc), còn trước đó gọi là thời nguyên thủy, chưa có giai cấp, chưa có nhà nước và Khảo cổ học gọi là thời Tiền sử.
Trước đây chúng ta hay nói, nước ta có 4.000 năm lịch sử, vì chúng ta tin theo cách tính toán của các cụ đời xưa rằng Hùng Vương dựng nước cách đây 4.000 năm.
Thật ra cách chọn 4.000 năm cũng là cách chọn đại khái theo truyền thuyết, còn trong sách “Đại Việt sử ký toàn thư” (tất nhiên cũng dựa theo truyền thuyết) thì cho rằng Kinh Dương Vương bắt đầu dựng nước vào năm 2.879 trước Công Nguyên (TCN), tính đến nay (2019) thì đã có đến 4898 năm.
Tuy nhiên, như tôi đã nói ở trên là tính toán của các cụ đời trước chỉ cho chúng ta một ý niệm về lịch sử dựng nước lâu đời của tổ tiên ta, chứ không cho chúng ta một niên đại chính xác.
May thay, sách “Việt sử lược”, bộ sử thời Trần còn ghi lại được: “Đến đời Trang Vương nhà Chu (698-682 TCN), ở bộ Gia Ninh có người lạ, dùng ảo thuật áp phục được các bộ lạc, tự xưng là Hùng Vương, đóng đô ở Văn Lang, hiệu là nước Văn Lang… Truyền được 18 đời, đều gọi là Hùng Vương”.
Niên đại Hùng Vương lập nước Văn Lang được “Việt sử lược” xác định là xấp xỉ 2.700 năm cách ngày nay. Niên đại này gần như trùng khớp với mốc mở đầu của văn hóa Đông Sơn.
Theo quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử thì nhà nước chỉ có thể ra đời khi phân hoá giai cấp đã phát triển đủ độ chín muồi. Mà phân hoá giai cấp chỉ phát triển cao trên nền tảng năng suất lao động và kinh tế phát triển. Năng suất lao động phát triển trên cơ sở sự thay đổi của công cụ sản xuất.
Các nhà nước sơ khai trên thế giới thường ra đời ở giai đoạn thời kỳ đồ sắt, đây là quy luật có tính phổ biến trên toàn thế giới. Tại Việt Nam, ở giai đoạn văn hoá Đông Sơn mới có sự phân hoá giai cấp, phân hoá xã hội nhưng chưa đủ độ chín muồi cho sự ra đời của nhà nước. Tuy nhiên, ở Việt Nam lúc này còn có hai yếu tố thúc đẩy nhà nước ra đời sớm hơn là nhu cầu đoàn kết chống ngoại xâm và nhu cầu trị thủy, làm thuỷ lợi của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước ở vùng lưu vực sông Hồng. Các nhà khoa học đã chứng minh nhà nước ta chỉ ra đời ở thời kỳ văn hoá Đông Sơn, cách ngày nay khoảng 2.700-2.500 năm, không thể đẩy lên trước Đông Sơn được (vì xã hội thời Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun chưa vượt ra khỏi loại hình xã hội nguyên thủy).
Niên đại mà chúng ta đang bàn ở đây hoàn toàn đúng với ghi chép của “Việt sử lược” và cũng phù hợp với các nguồn sử liệu khác mà chúng ta biết đến cho đến thời điểm hiện nay. Do đó, chúng ta có đủ cơ sở khoa học để kết luận rằng, nhà nước Văn Lang của Vua Hùng ra đời sớm nhất cách chúng ta khoảng 2.700 năm.

PV: Như vậy, thời đại Hùng Vương trong truyền thuyết cũng gắn liền với thời đại dựng nước trong lịch sử Việt Nam. Giáo sư đánh giá như thế nào về vai trò, vị trí của thời đại dựng nước trong tiến trình lịch sử dân tộc?

GS.TS Nguyễn Quang Ngọc: Thời đại dựng nước có vị trí, ý nghĩa hết sức đặc biệt trong tiến trình phát triển của lịch sử Việt Nam. Bởi vì chúng ta có một lịch sử dựng nước rất huy hoàng, sớm có truyền thống yêu nước, truyền thống uống nước nhớ nguồn, nhớ công ơn của tiên tổ đã đem lại cho ta quê hương, đất nước này, đó cũng là nguồn sức mạnh lớn lao để chúng ta xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Khi đất nước bị rơi vào ngoại bang, kẻ thù xâm lược thì nguyện vọng, quyết tâm lớn nhất của cả dân tộc là giành lại đến cùng nền độc lập tự do. Không phải ngẫu nhiên mà từ đầu Công nguyên, khi Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa thì lời thề là: “rửa sạch nước thù”“nối lại nghiệp xưa họ Hùng”. Tức là phải chiến đấu đến cùng để tiêu diệt bọn cướp nước, giành lại giang sơn đã bị bọn xâm lược giày xéo.
Hay chỉ hơn một tuần nữa TP Hà Nội sẽ làm lễ kỷ niệm 1.080 năm Ngô Quyền xưng vương và định đô ở Cổ Loa. Sau đại thắng Bạch Đằng, Ngô Quyền quyết định mở nước, xưng vương và định đô Cổ Loa là để nối lại quốc thống, tiếp tục sự nghiệp dựng nước và giữ nước thời đại các vua Hùng vua Thục.
Có thể nói, thời đại dựng nước đầu tiên là cội nguồn sức mạnh để dân tộc ta vượt qua muôn trùng hiểm họa của cả nghìn năm Bắc thuộc, đã và sẽ mãi mãi là nguồn lực tinh thần, vật chất vô cùng tận để chúng ta xây dựng và bảo vệ đất nước thiêng liêng được khởi lập từ thuở vua Hùng dựng nước Văn Lang.
Năm 1942 khi về nước để lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Bác Hồ đã viết cuốn “Lịch sử nước ta”, trong đó câu đầu tiên Bác viết: “Dân ta phải biết sử ta/ Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”. Phải hiểu rõ gốc tích nước nhà thì mới có nguồn lực, sức mạnh để chiến đấu, hy sinh vì sự trường tồn của đất nước…
Năm 1954, tại sườn núi Nghĩa, dưới mái Đền Hùng, khi nói chuyện với Đại đoàn quân Tiên Phong chuẩn bị về tiếp quản Thủ đô, Bác Hồ căn dặn: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. Đây có thể coi là tuyên ngôn kết tinh lịch sử, sức sống của thời đại Hùng Vương. Đất nước này là đất nước của tổ tiên, do tổ tiên chúng ta dựng nên, cho nên chúng ta phải quyết giữ bằng mọi giá.
Và tinh thần của con người Việt Nam suốt trường kỳ lịch sử luôn như vậy. Thời đại dựng nước luôn là biểu tượng cao nhất của Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, là cội nguồn sức sống Việt Nam, sức mạnh Việt Nam…

PV: Hiểu về thời đại dựng nước, chúng ta càng ý thức hơn việc bảo tồn, phát huy giá trị lịch sử của dân tộc. Quan điểm của giáo sư về vấn đề này như thế nào?

GS.TS Nguyễn Quang Ngọc: Phát huy giá trị lịch sử văn hoá của thời đại dựng nước là câu chuyện rất lớn. Thực tế cho thấy, thời đại nào phát huy được thì thời đại đó phát triển và hùng mạnh. Cũng cần phải thấy rõ nhu cầu ngày càng cao của việc bảo tồn và phát huy các giá trị, di sản lịch sử văn hoá thời đại dựng nước đầu tiên của lịch sử Việt Nam, đặc biệt là đối với giới trẻ - thế hệ tương lai của đất nước.
Tôi cũng hy vọng các nhà chiến lược, đặc biệt những người làm chiến lược về giáo dục của Việt Nam cần nhận rõ hơn vị trí, vai trò của sử học. Đặc biệt sử học của thời đại dựng nước trong chương trình đào tạo ở các bậc học, từ khi học sinh bắt đầu học phổ thông cho đến đại học và sau đại học.

PV: Nhìn rộng ra ý nghĩa của ngày Giỗ Tổ 10/3, theo Giáo sư chúng ta có thể thu nhận được bài học gì trong thời đại ngày nay?

GS.TS Nguyễn Quang Ngọc: Thời đại Hùng Vương và lễ Giỗ Tổ nhắc ta về những truyền thống, đạo lý tốt đẹp của người Việt, cũng như ý thức trách nhiệm trước sự bảo tồn và phát huy các giá trị vĩnh cửu của dân tộc. Đó là truyền thống yêu nước - cội nguồn sức mạnh của dân tộc.
Mà yêu nước tức là phải tìm mọi cơ hội, bằng mọi cách, bằng mọi giá góp phần xây dựng và bảo vệ đất nước, để đất nước ngày càng giàu mạnh, tươi đẹp. Ngược lại, quan liêu, lãng phí, tham nhũng (nhất là tham nhũng chính sách)… chỉ làm suy giảm và khánh kiệt mọi nguồn lực phát triển đất nước. Cả tiền nhân và hậu thế đều không thể dung tha cho loại phạm tội này.

PV: Trân trọng cảm ơn Giáo sư về cuộc trò chuyện!

Thứ Bảy, 13 tháng 4, 2019

CẢM GIÁC BẤT CÔNG

Trên cánh đồng Đại Thịnh một chiều hè, đàn vịt con bì bõm dưới mương nước; bên cạnh, đàn bò gần ba chục con gặm cỏ trên đám đất hoang. Không gian xanh mướt màu cỏ nhưng vẫn thấm vẻ điêu tàn của một mưu tính dang dở.

CẢM GIÁC BẤT CÔNG

Đám đất và mương nước, thực ra là đất dự án treo gần mười năm của Tổng công ty phát triển nhà và đô thị. Nếu đúng những gì xảy ra trên bản vẽ, thay thế cho vịt và bò phải là một khu đô thị mới với chung cư 15 tầng cùng hàng loạt nhà ở thấp tầng, siêu thị, bể bơi, công viên.
Đó là khung cảnh ngoại thành Hà Nội sau mười năm mở rộng địa giới hành chính. Trước ngày sáp nhập, Mê Linh được hứa hẹn là “không gian sống lý tưởng” với những dự án xây dựng khu đô thị, nhà vườn, biệt thự... khi thực hiện giãn dân, khiến cả vùng lên cơn sốt đất.
Khắp nơi ở phía Tây Hà Nội có thể tìm được khung cảnh dự án bỏ hoang có đàn bỏ nhởn nhơ gặm cỏ như thế. Ở Hà Đông, ở Hòa Lạc, ở Thạch Thất hay rất nhiều nơi từng được quy hoạch trở thành không gian sống mới của người thủ đô - giờ là các vùng hoang phế.
Trong nội thành, mười năm sau ngày mở rộng, mỗi ngày người dân mở mắt lao ra đường là một ngày mới vật lộn trong cảnh “thủ đô sục sôi ách tắc”.
Trên đường La Thành, Viện Nhi Trung ương cách Bệnh viện Phụ sản Hà Nội chỉ độ trăm mét. Cảnh ùn ứ có thể xảy đến bất cứ lúc nào, chỉ cần một chiếc taxi cố tình di chuyển chậm để bắt khách. Đi kèm một sản phụ bao giờ cũng là vài ba người nhà, kèm một đứa trẻ là cặp vợ chồng.
Ở phố Phủ Doãn, nơi đặt trụ sở Bệnh viện Việt Đức, người đi bộ không len nổi lên vỉa hè khi nó đã được trưng dụng làm bãi giữ xe. Tiếng còi hụ xe cấp cứu, xe đưa đón bệnh nhân nối đuôi nhau ra vào. Bảo vệ cầm loa đứng ở cổng viện kiêm mặt phố, giục các xe đi nhanh. Bên kia đường là dãy hàng ăn, tạp hoá bán đồ bệnh viện, la liệt những mẹt hàng rong. Quanh đó, Bệnh viện Phụ sản Trung ương, Bệnh viện K, Răng Hàm Mặt chen chúc người và người.
Trên quãng đường 2 cây số từ Xuân Thuỷ đến Hồ Tùng Mậu là một đại công trường xây dựng với tuyến đường sắt đô thị chưa biết bao giờ hoàn thành. Cũng là nơi đóng quân của 5 trường đại học với vài chục nghìn sinh viên. Đi kèm là hệ thống phòng trọ, hàng quán, chợ búa.
Trên đường Giải Phóng, bên này là ba trường đại học: Bách khoa, Xây dựng, Kinh tế quốc dân. Bên kia là Bệnh viện Bạch Mai, Tim mạch, Viện da liễu, Tai mũi họng. Trước cổng bệnh viện Bạch Mai luôn có bảo vệ, Công an làm nhiệm vụ giữ trật tự, điều tiết giao thông. Nhưng vẫn tắc nghẽn, và ngột ngạt.
Địa giới Hà Nội mở rộng, song công cuộc quy hoạch thủ đô phát triển về hướng Tây đã không như kỳ vọng. Chính quyền thất bại hoàn toàn khi không di dời nổi các cơ quan về vị trí mới như trong quy hoạch.
Theo quy hoạch mạng lưới giáo dục, các trường nằm trong vùng lõi đô thị sẽ phải giảm quy mô đào tạo từ 660 nghìn xuống còn tối đa 200 nghìn sinh viên. 13 trường đại học được đề xuất di dời khỏi nội đô. Bảy huyện ngoại thành để dành trên dưới 4 nghìn ha đất để phục vụ sinh viên. Nhưng đến nay, ngoài Khoa Luật của Đại học Quốc gia chuyển lên Hoà Lạc, và một dự án xây dựng Đại học quốc gia “chưa biết khi nào hoàn thành”, các trường còn lại vẫn yên vị.
Theo quy hoạch mạng lưới y tế, tám bệnh viện nằm trong lõi đô thị sẽ phải di dời. Đồng thời, xây mới tổ hợp công trình y tế đa chức năng ở bốn huyện ngoại thành. Thời điểm này, có những bệnh viện đã di nhưng không dời, xây dựng cơ sở mới đưa vào hoạt động nhưng không trả lại quỹ đất cho thành phố.
Các bộ ngành cũng không chịu di dời trụ sở theo quy hoạch của Chính phủ. Thành phố đã vài lần kiến nghị cơ quan chủ quản đôn đốc bộ ngành. Nhưng chỉ khoảng chục bộ trong tổng số 28 bộ ngành thực hiện chủ trương.
Trường học, bệnh viện, bộ ngành nhiều năm không chịu di dời khỏi nội thành đã góp phần tạo nên cảnh tượng giao thông thảm hoạ của thủ đô. Và khi tất cả những giải pháp cũ còn dang dở, chính quyền đang bàn tới giải pháp mới: cấm xe máy.
Nguyễn Trãi hoặc Lê Văn Lương đang được Sở Giao thông Hà Nội nghiên cứu thí điểm cấm xe máy. Hai năm trước, với trên 91% đại biểu nhất trí, HĐND thành phố cũng đã thông qua nghị quyết quản lý phương tiện cá nhân, tiến tới cấm xe máy tại các quận nội thành từ năm 2030.
Hà Nội đã không thể cưỡng chế được các cơ quan ban ngành ra ngoại vi, dù có quy hoạch giấy trắng mực đen, quyết định bằng văn bản lẫn yêu cầu bất thành văn ở cấp cao hơn. Nhưng cùng một loại mệnh lệnh hành chính tương tự, với sự giúp sức của lực lượng thực thi pháp luật, chính quyền có thể cấm được người dân đi xe máy trong nội thành.
Những người đi xe máy ở Hà Nội đang ở vào thế yếu. Có những nhóm lợi ích cao cấp hơn họ có quyền chây ì, chống lại quy hoạch, gây ra cảnh tắc nghẽn hiển hiện. Và bởi thế, việc cấm xe máy, dù có cơ sở khoa học thế nào, cũng dễ tạo ra tâm lý uất ức.
Dân đi xe máy dễ điều khiển hơn giám đốc bệnh viện, hiệu trưởng đại học và lãnh đạo Bộ ngành, thực tế ở đây có thể được hiểu như vậy. Phương án A có trước tận 10 năm nhưng không thực hiện được, nên trách nhiệm đổ dồn vào phương án B, với một nhóm đối tượng dễ ra mệnh lệnh hơn.
Rất có thể việc cấm xe máy là hoàn toàn chính đáng và đằng nào cũng phải thực hiện. Nhưng đó là chuyện logic. Trong bối cảnh “phương án A” trì trệ cả một thập kỷ vì những người có quyền chức, thì bắt người dân điều chỉnh kế mưu sinh bé mọn trước mắt cho “phương án B”, khiến cho mọi logic sụp đổ. Chỉ còn cảm giác không vui.
Khi người ta tránh né những kẻ mạnh, rồi tìm cách thỏa mãn nhu cầu bằng việc ra lệnh cho kẻ yếu, động từ phù hợp và cảm giác phù hợp của những người yếu, là “bị bắt nạt”. Chính quyền Hà Nội và cao hơn là Chính phủ chắc chắn muốn làm, cần làm nhiều hơn, với những đối tượng chống quy hoạch, trước khi thuyết phục người dân hòa thuận đi theo con đường mình đã chọn.
Hoàng Phương

GIÁ TRỊ THIÊNG LIÊNG

Truyền thuyết người mẹ khởi nguyên Âu Cơ sinh ra cái bọc có trăm trứng, nở ra một trăm người con trai, một nửa ở vùng cao - vùng núi, một nửa ở vùng biển - vùng đồng bằng - tượng trưng cho toàn thể dân tộc chung một cội nguồn, hình thành nên “nghĩa đồng bào” thiêng liêng, sâu nặng. 
“Nhiễu điều phủ lấy giá gương
Người trong một nước phải thương nhau cùng”
hay 
“Tuy rằng xứ Bắc, xứ Đông
Khắp trong bờ cõi cũng dòng anh em”,
“Anh em cốt nhục đồng bào
Kẻ sau người trước, thuận hòa cho vui”… 
là những câu ca phản ánh quan niệm sống yêu thương, đùm bọc trong cộng đồng của người Việt. Đó là một giá trị trường tồn.

GIÁ TRỊ THIÊNG LIÊNG

Bắt nguồn từ truyền thống thờ cúng tổ tiên, người Việt đã tôn vinh các Vua Hùng là thủy tổ chung của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và gìn giữ hương khói từ đời này qua đời khác, với tinh thần “Con người có tổ, có tông/ Như cây có cội, như sông có nguồn”.
Trong đời sống hiện nay của thế giới nói chung rất phức tạp, ẩn chứa nhiều xung đột, mâu thuẫn, nhiều nguy cơ chia rẽ về tôn giáo, sắc tộc, văn hóa… thì tinh thần đoàn kết, gắn bó, cùng nhau hướng về những giá trị chung của lòng biết ơn nguồn cội, tổ tiên của người Việt nổi bật một giá trị tinh thần đặc biệt quý báu.
Chính vì thế, các nghi lễ thờ cúng Vua Hùng trải qua biết bao biến thiên của lịch sử, đến nay đã mang tầm vóc quốc tế, qua sự kiện UNESCO công nhận “Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ” là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại vào năm 2012. UNESCO nhận định: Thờ cúng Hùng Vương thể hiện lòng tri ân tổ tiên nhằm nâng cao niềm tự hào và cố kết xã hội, đồng thời khuyến khích các cộng đồng nhận thức được sự tương đồng trong khi nâng cao sự đa dạng văn hóa. Như vậy, những giá trị tinh thần qua tín ngưỡng thờ cúng các Vua Hùng đã mang giá trị nhân loại, vượt qua ranh giới địa lý và văn hóa của mỗi quốc gia.
Qua lớp sương mù huyền thoại, các nghiên cứu đã cho chúng ta thấy thời đại Hùng Vương mà sử thành văn đã chép có niên đại khoảng từ cuối Thiên niên kỷ thứ III TCN đến Thế kỷ thứ 3 TCN, tương ứng với khoảng thời gian này là sự tồn tại của thời đại đồng thau mà khảo cổ học đã phát hiện ra các nền văn hóa Phùng Nguyên, Đông Sơn. Chính trên nền tảng của văn hóa Đông Sơn mà hình thành nên nhà nước Văn Lang.
Thời đại Hùng Vương đánh dấu sự chuyển biến kinh tế - xã hội từ nguyên thủy sang văn minh. Cư dân đã chiếm lĩnh vùng đất cao châu thổ sông Hồng, sông Mã và sông Cả, những vùng đất phù sa màu mỡ dần được khai thác trong quá trình chinh phục rừng rậm, đầm lầy. Với điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm, nước dư thừa, đất đai phì nhiêu bên các con sông lớn của Đồng bằng Bắc Bộ và Đồng bằng Trung bộ rất thuận lợi cho việc trồng lúa nước và hình thành nền Văn minh lúa nước.
Nền văn minh lúa nước là chiếc nôi để hình thành cộng đồng cư dân có lối sống định cư, định canh và các giá trị văn hoá, đặc biệt là văn hóa làng xã, nơi ấp ủ trao truyền những phong tục, tập quán tốt đẹp ngàn năm.
Nước Văn Lang và sau đó là nước Âu Lạc đã mở đầu thời kỳ dựng nước và giữ nước vẻ vang trong lịch sử Việt Nam. Các kết quả khảo cổ phát hiện nhiều loại vũ khí bằng đồng thau cho thấy các cư dân Lạc Việt đã phòng bị, cảnh giác trước nạn ngoại xâm.
Vì vậy, hướng về Đền Hùng lịch sử, chúng ta còn tiếp nhận được bài học ngàn năm về chinh phục thiên nhiên, xây dựng cuộc sống ấm no và tạo dựng nền văn hóa, văn minh mang bản sắc Việt và bài học về không ngừng cảnh giác, nâng cao năng lực bảo vệ Tổ quốc mỗi khi có nguy cơ bị xâm lăng.
Những bài học ngàn năm ấy không bao giờ cũ./.

Thứ Sáu, 12 tháng 4, 2019

SỰ THẬT LỊCH SỬ CẦN ĐƯỢC TÔN TRỌNG

Cách đây mấy năm, Tạp chí Xưa & Nay được ông Dương Trung Quốc cố vấn đặt vấn đề nên: “Làm nhà thờ tôn vinh Nguyễn Ánh ngang hàng với Nguyễn Huệ”. Nếu việc đó xảy ra, đó là một việc làm đi ngược lại lịch sử, trái đạo lý cùng chân lý của dân tộc Việt Nam. 

Đã là lịch sử phải là sự thật, bởi suốt chiều dài của lịch sử Việt Nam chính sử đã ghi “công tội” rất rõ ràng của các cá nhân cùng các chính thể qua các triều đại và chúng ta những hậu thế cần và biết tôn trọng lịch sử. Vì thế, coi hành động đòi tôn vinh kẻ “cõng rắn cắn gà nhà, rước voi về dày mả tổ” như Nguyễn Ánh là anh hùng dân tộc là trái luân thường đạo lý. Một hành vi như thế đã và đang phản bội lại chính lịch sử và cả dân tộc mình. Sự nhầm lẫn tệ hại dẫn đến việc xuyên tạc lịch sử của ông Dương Trung Quốc và một số người nghiên cứu mang danh giáo sư, tiến sỹ, là các “cây đa cây đề” trong giới sử học Việt Nam là một điều đáng tiếc và cần phải phê phán.

SỰ THẬT LỊCH SỬ CẦN ĐƯỢC TÔN TRỌNG

Dân tộc Việt Nam, Nhân dân Việt Nam ai cũng biết Quang Trung - Nguyễn Huệ là anh hùng dân tộc, vị anh hùng áo vải, một lãnh tụ của Nhân dân đã có công lớn trong việc chống giặc ngoại xâm phương Bắc đánh đuổi 20 vạn quân Thanh ra khỏi bờ cõi và có công lớn trong việc thống nhất nước nhà. Rõ ràng, “Hoàng đế Quang Trung một vị Anh hùng dân tộc, cả triều đại và gia thất của ông đã bị cha con nhà Nguyễn Ánh trả thù hèn hạ, đào mồ mả, phanh thây và lăng nhục. Nhưng con cháu người Việt muôn đời sau vẫn và vẫn mãi mãi tôn thờ Ông là một vị minh quân, đại anh hùng dân tộc. Cha con nhà Nguyễn Ánh bán nước cầu vinh cho thực dân Pháp, núp bóng quân xâm lược để đoạt ngôi Vua nhưng vẫn bị người đời nguyền rủa và phỉ báng là kẻ “rước voi về dày mả tổ, cõng rắn cắn gà nhà”. Nguyễn Huệ - Quang Trung mới là công thần, Nguyễn Huệ - Quang Trung mới là người xứng đáng được cả dân tộc Việt tôn vinh. Nguyễn Ánh kẻ bán nước cầu vinh với cái gọi là công lao “mở mang bờ cõi” của ông ta cũng được xã hội và dân tộc ghi nhận, nhưng “tội lỗi tày trời của ông ta còn to gấp vạn lần công” nên ông ta mới là người có tội với cả dân tộc này.
Nếu người ta có nhắc đến công mà hương khói cho Nguyễn Ánh âu cũng là chuyện bình thường của người dân Việt, đó cũng là việc nên làm và cũng nên hiểu đó cũng là nét nhân văn, truyền thống của văn hóa Việt. “Nhưng ý đồ đặt ngang hàng với người anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ - Quang Trung thì rõ ràng đây chính là hành động đánh đồng phải trái, vàng thau lẫn lộn để đảo ngược giá trị và đó cũng là điều sỉ nhục lịch sử và cả dân tộc này”. Chúng ta cần có cái nhìn tổng quát, khách quan để có được cái nhìn đúng đắn về lịch sử và vai trò của chính sử để có lòng tự tôn và lòng tự hào về dân tộc mình. Vì thế, thế hệ sau phải có trách nhiệm tôn trọng và bảo vệ lịch sử, để thời điểm nào lịch sử cũng luôn khách quan và lịch sử luôn là sự thật để muôn đời các thế hệ mai sau biết, tôn trọng và tự hào về lịch sử của dân tộc mình, đất nước mình. Nếu tôn vinh Nguyễn Ánh kẻ “rước voi về dày mả tổ” để dân tộc này chìm đắm gần 100 năm nô lệ của giặc Tây là anh hùng dân tộc đó là điều hoang tưởng, không thể và không bao giờ.
Nhân nói đến “công tội” Nguyễn Ánh thời xưa, người ta lại nghĩ đến một sự kiện rất giống nhau về bản chất, giữa Nguyễn Ánh và những người của chế độ Việt Nam Cộng hòa (VNCH). Bởi thời gian gần đây những kẻ chống cộng cực đoan cùng một “nhúm” các nhà dân chủ cuội trong nước nói nhiều đến cái chết của người lính VNCH, đặc biệt những người tử trận ở Hoàng Sa năm 1974, họ đang cố tình bóp méo sự thật, đánh lận con đen, lập lờ giữa những người hy sinh vì Tổ quốc và cái chết của những kẻ phản lại Tổ quốc đều đáng được kính trọng và vinh danh. Thật lố bịch cho những kẻ bại não đã “ngu chính danh” nay “ngu thêm cả chính sử” và không thể ngu hơn được nữa về cái sự hiểu biết quá ư là ấu trĩ và lệch lạc về lịch sử Việt Nam. Những kẻ ôm chân ngoại bang, làm tay sai cho quân xâm lược “cõng rắn cắn gà nhà, rước voi về dày mả tổ” như cha con nhà Nguyễn Ánh, Nguyễn Thân... cùng cha con nhà tam đại Việt gian Ngô Đình Diệm… đòi chính danh, chính nghĩa cho một chế độ chống lại Nhân dân, phản lại dân tộc, đòi tôn vinh những kẻ đã thành tử sĩ của chế độ tay sai, bù nhìn cho quân xâm lược. Người dân Việt chân chính họ sẽ nghĩ sao khi các nhà dân chủ, như những kẻ “ngu chính sử” chống chính quyền Việt Nam hiện nay với chiêu bài chống Trung Quốc xâm lược bằng cách “tôn vinh” những kẻ một thời cam tâm theo giặc gây ra chiến tranh, chống lại dân tộc, cùng với những kẻ ôm chân ngoại bang, làm tay sai cho quân xâm lược đã mũ ni che tai, cố tình che đậy một sự thật để cố tình biện minh cho hành vi yêu nước theo kiểu bán nước như Nguyễn Ánh của mình.
Sự hy sinh của các hậu duệ đời sau của người anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ - Quang Trung là các chiến sỹ cách mạng cho cuộc chiến giành độc lập, thống nhất non sông liệu có còn ý nghĩa hay vô nghĩa khi những người con ưu tú là những anh hùng thật sự lại được vinh danh cùng với những kẻ phản lại Tổ quốc (hậu duệ của Nguyễn Ánh) như con người của quốc gia Việt Nam hay VNCH, những kẻ đã từng gây ra tội ác tày trời với dân tộc? Mục đích hòa hợp, hòa giải hiện nay là chủ trương rất đúng của Đảng cùng Nhà nước Việt Nam nên cái chết của các tử sỹ VNCH ở Hoàng Sa đã được chính quyền các cấp làm với nhiều hình thức, phương pháp để thắp hương tưởng nhớ đến họ làm như vậy (không có nghĩa là tôn vinh họ) vì đó cũng là việc nên làm, bởi đó là nét nhân văn của văn hóa Việt “nghĩa tử là nghĩa tận” với người đã khuất. Nhưng vinh danh tử sỹ của chế độ VNCH ở Hoàng Sa đó là điều không thể, không bao giờ bởi nó làm xáo động nhân tâm, gây mất niềm tin và bất bình của người dân trong nước. Vì thế việc ghi nhận, cầu siêu cho họ đã và vẫn đang làm, làm như thế để quá khứ được ngủ yên chứ không phải đi ngược lịch sử, bới lại quá khứ để đảo lộn giá trị và cào bằng lịch sử.
Nhân đây cũng muốn được nhắc lại những cái chết oan uổng của những những người lính VNCH. Mà những kẻ “ngu chính sử lẫn chính danh” cố tình dựng chuyện, cố dựng cái chính danh, chính nghĩa “tự huyễn” của chính thể “tiếm danh, tiếm quyền” phi dân tộc VNCH, họ muốn cào bằng lịch sử, đổi trắng thành đen, đánh đồng giữa công và tội, giữa chính nghĩa và phi nghĩa. Bởi thế vinh danh hay phỉ báng một chế độ hay người đã khuất chỉ là hành động của những người đang sống, hay nói một cách khác đó là hành vi và động cơ chính trị của những người đang sống. Những đòi hỏi quá đáng và những điều kiện vô cùng phi lý cho một chế độ phản nước, hại dân cùng với cái chết phi nghĩa của tử sỹ VNCH ở Hoàng Sa nói riêng và các tử sỹ VNCH nói chung là điều không thể. Lịch sử rất khách quan, công bằng và cũng rất rõ ràng. Vấn đề được đặt ra những người tử trận VNCH có xứng đáng được vinh danh và tôn thờ hay không? Nếu đáng được vinh danh và tôn thờ thì lịch sử đã ghi danh, người dân đã vinh danh chứ không cần phải rùm beng, ầm ĩ như thế để làm gì cho tốn công vô ích.
Hãy để cho (họ) tử sỹ VNCH yên giấc ngàn thu, bình thản với thế giới của họ, để linh hồn họ được siêu thoát ở cõi vĩnh hằng. Đừng khuấy động lên nữa để cho thêm đớn đau những oan hồn người đã khuất và gia đình của họ bởi họ đã bị lừa rối, bất đắc dĩ phải làm tử sỹ của một chế độ bán nước hại dân chẳng khác nào cha con nhà Nguyễn Ánh. Người chết thì đã chết. Hãy để cho tử sỹ VNCH được yên ổn nếu không chẳng khác gì người đang sống đang cố đào mồ, đào mả của họ để cố dựng lên cái chính danh mà họ không bao giờ được vinh danh trên một thây ma đã chết nay lại được lưu danh muôn đời là cái “Mả Ngụy”.
Quay lại với việc đánh giá công trạng của Nguyễn Ánh với cái nhìn biện chứng để đánh giá khách quan người ta thấy “tội lỗi tày trời của ông ta còn to gấp vạn lần công”. Xét nhiều yếu tố, nhiều góc cạnh từ nhân văn cho đến cái nhìn của lịch sử thì việc đề nghị tôn vinh ông ta (Nguyễn Ánh) ngang hàng với đại anh hùng Nguyễn Huệ - Quang Trung là điều hoang tưởng và không bao giờ. Bản chất cùng một sự việc, cùng bối cảnh lịch sử sau này của chế độ VNCH mà tiền thân của nó là quốc gia Việt Nam tay sai thực dân, đế quốc, cũng như Triều đình nhà Nguyễn (Nguyễn Ánh) họ đã bán nước cầu vinh, phản lại Nhân dân họ (VNCH) là một chính quyền phi dân tộc. Nhưng khách quan mà nói trong quá khứ họ cũng đã làm được nhiều việc, cũng đã được lịch sử đánh giá tuy nhiên cũng như Nguyễn Ánh “tội lỗi tày trời của VNCH cũng to gấp vạn lần công”. Cho nên áo tưởng đảo ngược lịch sử đòi chính danh, chính nghĩa cho một chế độ tay sai ngoại bang và đòi vinh danh cho tử sỹ của một chế độ bán nước là điều không thể.
Vì thế một lần nữa khẳng định: Dân tộc Việt Nam, Nhân dân Việt Nam chân chính không bao giờ lại phải nhục nhã cúi đầu tôn vinh Nguyễn Ánh cùng với những tử sỹ VNCH ở Hoàng Sa nói riêng và các tử sỹ VNCH nói chung, những kẻ đã và đang là hậu duệ đời sau của Lê Chiêu Thống, Trần Ích Tắc… Nếu tôn vinh Nguyễn Ánh cùng với tử sỹ VNCH chẳng khác nào người ta sớm quên đi tội bán nước cầu vinh để dân tộc này chìm đắm gần 100 năm nô lệ giặc Tây và đất nước bị 30 năm chiến tranh tàn phá của đế quốc Mỹ xâm lược, cùng với đó là hàng triệu gia đình của hai miền Nam Bắc đã mất người thân dưới họng súng của quân xâm lược và bè lũ tay sai của chúng là VNCH.
Kim Khanh

Thứ Tư, 10 tháng 4, 2019

CẢNH GIÁC VỚI LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC QUY ĐỊNH TRÁCH NHIỆM NÊU GƯƠNG CỦA ĐẢNG


Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng cầm quyền, là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội. Lịch sử dân tộc trong suốt chiều dài xây dựng và bảo vệ Tổ quốc gần thế kỷ qua, sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố tiên quyết đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này tới thắng lợi khác, tiếp tục giành những thành quả quan trọng trong công cuộc đổi mới xây dựng đất nước.

CẢNH GIÁC VỚI LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC QUY ĐỊNH TRÁCH NHIỆM NÊU GƯƠNG CỦA ĐẢNG

Mặc dù vậy, với mục tiêu làm suy yếu, lật đổ vai trò lãnh đạo của Đảng, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị, phản động không từ thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt nào, trong đó phá hoại chủ trương, đường lối và mới đây là xuyên tạc Quy định trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên.
Cho dù là bất kỳ thể chế chính trị nào, đảng cầm quyền, đảng chính trị đều có phương thức lãnh đạo của mình. Đối với cách mạng nước ta, Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo bằng cương lĩnh, chủ trương, đường lối, nghị quyết, chỉ thị, quy trình, lề lối làm việc, tác phong công tác… vận động, thuyết phục quần chúng thực hiện các nhiệm vụ cách mạng đề ra. Trong các hình thức, phương pháp đó, nêu gương là phương thức quan trọng.
Nói về vai trò nêu gương, chắc hẳn trong ký ức nhiều người dân đất Việt chúng ta còn văng vẳng lời mẹ ru câu đồng dao chất chứa điều răn mà cha ông đúc kết: “Người trên ở chẳng chính ngôi, khiến cho người dưới chúng tôi hỗn hào. Người trên ở chẳng được cao, khiến cho người dưới lộn nhào lên trên”. Hay như trong “Thập vương pháp” (Kinh tiểu bộ), Đức Phật cũng dạy người làm lãnh đạo: khi chân chính, người khác cũng chân chính noi theo, cần sống có đạo đức, sẵn sàng hy sinh lợi ích cá nhân cho dân, cho nước, phải liêm khiết, nghiêm minh, chính trực, công bằng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt đề cao: “Cán bộ, đảng viên, đoàn viên phải làm đầu tàu, gương mẫu. Muốn làm gương mẫu thì điều quan trọng nhất tự mình nêu gương và giáo dục cho đảng viên, đoàn viên và quần chúng, cán bộ giữ gìn, phát triển đạo đức cách mạng”. Tất cả những điều ấy đều chính là nêu gương.
Trong giai đoạn hiện nay, nêu gương của cán bộ, đảng viên chính là một phương thức lãnh đạo của Đảng, đây là kết quả quá trình kế thừa giá trị đạo đức truyền thống mang đậm tính nhân văn, nhân bản của dân tộc Việt Nam. Trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc, nhiều chiến sỹ cách mạng trung kiên, dù khó khăn, gian khổ vẫn chiến đấu, anh dũng hy sinh là những tấm gương để nhiều thế hệ noi theo “người trước ngã, người sau lên” cho dân tộc được độc lập, nhân dân được tự do.
Trong điều kiện hiện nay, đất nước được độc lập đi lên chủ nghĩa xã hội, sự nêu gương của mỗi cán bộ, đảng viên lại càng có vai trò ý nghĩa quan trọng. Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương khóa XII thông qua Quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương, là sự cần thiết, cấp bách để xây dựng Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh.
Xuyên tạc Quy định trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương (Quy định số 08-QĐi/TW), các phần tử cơ hội chính trị cho rằng: Nêu gương là quy định không có tác dụng, nêu gương là mị dân và không cần thiết trong điều kiện tất cả đã có quy định.
Viết trên trang Báo Tiếng Dân (sau đó được các báo mạng hải ngoại, blog đăng lại), ông Nguyễn Đình Cống mới đây trong bài “Phản biện quy định nêu gương” xuyên tạc: “Người ta cho rằng do một số người thoái hoá biến chất. Đó chỉ là sự vuốt đuôi. Thực ra nguyên nhân cơ bản là đường lối của Đảng cộng sản, dựa vào chủ nghĩa Mác - Lê, là sự độc đoán, chuyên quyền và dân chủ giả hiệu”. Cũng dưới chiêu bài “trao đổi”, “phản biện” về Quy định trách nhiệm nêu gương, trên trang “Nghiên cứu Việt” và nhiều trang mạng hải ngoại, Facebook, trong bài viết “Trao đổi với Nhị Lê” ngày 27/3/2019, ông Cống suy diễn: “Tôi nghiên cứu kỹ nội dung Quy hoạch, rút ra nhận xét rằng nó phản dân chủ, phản tiến bộ”...
Thủ đoạn của những luận điệu nêu trên là xuyên tạc Quy định trách nhiệm nêu gương của Đảng, cố tình hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng. Cho dù bằng nhiều cách diễn đạt khác nhau, song mục đích cuối cùng và không bao giờ thay đổi của thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị là nhằm hạ bệ nền tảng tư tưởng chính trị của Đảng là chủ nghĩa Mác - Lênin, là xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và thể chế chính trị ở Việt Nam.
Trên phương diện lý luận, thực tiễn dân chủ, nhân quyền là những giá trị tiến bộ mà nhân loại luôn hướng tới. Lịch sử các nền dân chủ trong tiến trình phát triển nhân loại bao giờ cũng gắn với một thể chế chính trị, một hình thái nhà nước nhất định.
Không có khái niệm dân chủ, nhân quyền chung chung như bọn chúng rêu rao. Hay nói cách khác, nếu không phải dân chủ xã hội chủ nghĩa, gắn với nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thì đó là dân chủ tư sản, cổ vũ, hướng lái cách mạng Việt Nam theo con đường tư bản chủ nghĩa.
Là một trong những người xuyên tạc Quy định nêu gương mạnh mẽ nhất, Nguyễn Đình Cống là ai? Ông Nguyễn Đình Cống là giáo sư, tiến sĩ, nhà giáo từng công tác tại Đại học Xây dựng. Ông là kỹ sư, chuyên nghiên cứu về bê tông và các lĩnh vực khác trong xây dựng, có đóng góp nhất định cho công tác nghiên cứu, giảng dạy, đào tạo trong lĩnh vực xây dựng.
Tuy nhiên sau khi về hưu, trong những năm qua, ông Nguyễn Đình Cống đã viết, phát tán nhiều bài viết trên các trang mạng hải ngoại, cá nhân núp bóng chiêu bài “phản biện” các chính sách đến trực tiếp chống đối Đảng, phê phán chủ nghĩa Mác - Lênin, kêu gọi thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Trong dịp kỷ niệm 86 năm ngày thành lập Đảng (03/02/2016), ông ta đã tuyên bố từ bỏ Đảng. Trên website Nhân Văn Việt, ngay học trò của ông cũng phải chua xót về “vị giáo sư xưa và kẻ phản đảng hiện nay”.
Người học trò cũ cũng thất vọng “không hiểu vì sao mà người thầy xưa kia lại trở nên công khai chống Đảng, phủ nhận thành quả cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng, xuyên tạc sự thật và trở thành kẻ vô ơn bạc nghĩa, làm mất đi hình ảnh người thầy ngày xưa”. Ông Nguyễn Đình Cống là một trong những tác giả của kiến nghị đòi “đổi tên đảng” (không gọi là Đảng Cộng sản); “đổi tên nước” (không gọi là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa), từ bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin và CNXH.
Trong giai đoạn hiện nay, đẩy mạnh công cuộc đổi mới, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mở cửa hội nhập sâu rộng, hơn lúc nào hết để đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng bằng nâng cao năng lực lãnh đạo, bản lĩnh chính trị, sức chiến đấu của Đảng thì công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng là nhân tố đặc biệt quan trọng, thường xuyên, liên tục.
Do vậy, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi đây là nhiệm vụ then chốt, nhiệm vụ có ý nghĩa sống còn với Đảng và chế độ, điều kiện tiên quyết để thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Muốn vậy, Đảng phải thật sự trong sạch, vững mạnh, Đảng là đạo đức, là văn minh.
Chính vì lẽ đó, cụ thể hoá những quy định của Đảng, tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ, Đảng ban hành Quy định trách nhiệm nêu gương, trên cơ sở đó để cán bộ, đảng viên tự soi, tự sửa, tự rèn luyện, hoàn thiện mình, nhất là cán bộ cấp cao. Quy định được ban hành đến nay tuy thời gian chưa dài, xong cán bộ, đảng viên có những chuyển biến tích cực về trách nhiệm nêu gương, tạo hiệu ứng, lan toả sâu rộng trong toàn Đảng.
Rõ ràng luận điệu xuyên tạc về Quy định trách nhiệm nêu gương cần phải cảnh giác và đấu tranh./.